Vận thủy và những điều bí mật ẩn chứa bên trong

1. MỆNH SÁT QUY TÂM

Nếu trung ương của trạch bàn là Thủy vị thì đại diện cho tâm điểm của ngôi nhà là bể nước. Người xưa hay bố trí một bể nước trong nhà, còn hiện nay thì quan trọng nhất là không được treo đèn ở vị trí đó, bạn treo đèn ở vị trí đó sẽ khiến vị trí đó hoàn toàn mất Thủy. Bạn phải để trống chỗ chính giữa nhà để mọi người có thể đi lại, không cần đặt một thùng nước ở chính giữa nhà.

ngũ hành tương sinh tương khắc

Trong phong thủy học có khái niệm âm sát quy tâm và dương sát quy tâm.

Âm sát quy tâm có nghĩa là nhà vệ sinh nằm ở chính giữa nhà.

Dương sát quy tâm nghĩa là nhà bếp nằm ở chính giữa nhà.

Người khuyết Thủy đối mặt với hai loại sát này đều bất lợi.

Âm sát quy tâm tương đương với Thủy vị ở số 2 bay vào chính giữa nhà. Bạn không được đặt Thủy ở chính giữa nhà, chỉ có thể làm cho vị trí ấy lưu thông, không được để tạp vật cản trở.

Giữa nhà để trông lợi “Thủy”

Đối với người khuyết Thủy, nếu chính giữa nhà là Thủy vị thì không được treo đèn ở đó, phải để trống chính giữa nhà để mọi người quay lại, không cần đặt một thùng nước ở đó. Nếu chính giữa nhà là nhà vệ sinh hay nhà bếp thì đều rất bất lợi, chính giữa nhà cũng không được đặt bàn ghế.

2. THỦY VỊ CỦA MỎI NĂM

Phương vị được tìm theo phương pháp trạch bàn có tính vĩnh cửu, không thay đổi theo thời gian.

Sau khi tìm được trạch bàn của ngôi nhà, sẽ tìm được niên bàn thay đổi hàng năm.

Cách tìm niên bàn rất dễ dàng. Niên bàn thích dụng với từng nhà, vì đó là phi tinh của mỗi năm.

Thí dụ năm 2010, sao Bát Bạch bay vào cung giữa. Chúng ta đặt số 8 vào cung giữa là biết được năm 2010 các phưong có sao nào bay đến.

Sao Thủy năm 2010 bay đến phía chính tây, vì thế Thủy vị của năm 2010 ở phía chính tây. Đây là một phương vị biến đổi mỗi năm, thích dụng cho mọi nhà, gọi là niên bàn. Trạch bàn là phưong vị ngũ hành tìm được theo các phương vị khác nhau của ngôi nhà, phưong vị này là vĩnh cửu bất biến.

Từ hình vẽ có thể thấy, sao Thủy Nhất Bạch của năm 2010 bay đến phương bắc, năm này đặt các đồ vật thuộc Thủy ở phương vị này thì vận Thủy sẽ được tăng cường.

Còn các phương vị chuyển biến mỗi năm thì có một nguyên lý khoa học, vì Thủy không ngừng chuyển biến ở những phương vị khác nhau. Chúng ta xem Thủy này đến nơi nào là biết được sức mạnh của nó.

Thủy năm 2010 đi về phía chính tây, phía chính tây là đất Kim, Thủy nhập đất Kim, Kim có thể sinh Thủy, Thủy cũng có thể làm cho Kim sắc bén hon, đạt được hiệu quả Thủy trắng Kim trong, sức mạnh sẽ được tăng cường rất nhiều.

Do Thủy năm 2010 vào đất Kim nên mặc dù vận Thủy của can chi trụ năm không thật đầy đủ, nhưng nhờ có sự bổ sung của Thủy vị trạch bàn nên vận trình của người khuyết Thủy năm 2010 cũng không phải quá kém.

3. LOAN ĐẦU HỌC

Người khuyết Thủy phải biết thế nào là lý khí, thế nào là loan đầu trong môi trường học. Với người khuyết Thủy, nếu nhà ở hoặc công ty tọa lạc ở Thủy vị thì đây đưong nhiên là một môi trường rất tốt. Nhưng nếu toà nhà đối diện với một cửa hàng bán cá thì cũng có thể sinh ra hành Thủy. Nếu tên gọi của cửa hàng hoặc tên đường có rất nhiều Thủy thì có thể đồng thời tạo ra nhiều Thủy.

Bởi vậy bạn phải chú ý những gì mà nhà bạn đối diện có thể ảnh hưởng đến ngũ hành của bạn. Thí dụ bạn kinh doanh một cửa hàng, phương vị và phong thủy của bản thân cửa hàng cố nhiên là quan trọng, nhưng bạn còn phải lưu ý những gì mà cửa hàng đối diện, vì những thứ đó trực tiếp quyết định hành mà cửa hàng của bạn hấp thu.

Người khuyết Kim đối diện với ngân hàng sẽ có lợi, nhưng người khuyết Thủy đối diện với chùa, cửa hàng đồ điện thì việc kinh doanh của bạn sẽ tưong đối khó khăn. Ngũ hành của nhà hàng cũng quyết định bởi việc nó kinh doanh loại thức ăn nào. Nhà hàng chuyên về lẩu, nhà hàng chuyên về rắn là Hỏa, đồ ăn Âu – Mỹ là Thủy. Trang trí và màu sắc thiết kế của cửa hàng cũng ảnh hưởng đến ngũ hành của nó. Thông thường, cửa hàng thuộc Thủy ít hon cửa hàng thuộc Hỏa.

Người khuyết Thủy phải luôn lưu ý đến giao thông, vì xe hơi chạy nhiều ti ên đường thuộc Hỏa nên giao thông thuộc Hỏa. Người khuyết Thủy không được sống ở nơi đối diện với nhà để xe, cũng không được sống trên lầu đối diện với trạm xe buýt. Theo phong thủy học, xe buýt dừng ở cửa thì trường khí đó sẽ ngưng tụ ở cửa nhà bạn, mà khí xe buýt và xe hơi ngưng tụ đều là khí Hỏa vượng.

Người khuyết Thủy sợ nhất là quần áo trang sức có hình nhọn giống ngọn lửa, vì hình nhọn thuộc Hỏa.

Trên đây là môi trường chúng ta ở, tức là về ngũ hành của không gian.

Ngoài không gian, thời gian cũng có ảnh hưởng rất lớn.

Hẳn bạn rất muốn biết thời gian có sinh ra trợ lực cho chúng ta hay không. Trong thuật số Trung Hoa có một thuyết tên là Ngũ Tý luận mệnh.

Ngũ Tý luận mệnh cho chúng ta biết ngũ hành của thế vận. Bạn phải nắm được khái niệm nạp âm của 60 giáp tử. Thế nào là 60 giáp tử?

4. VẬN THỦY TRONG VẬN NGŨ TÝ

Người xưa tính toán thời gian dùng mười thiên can và mười hai địa chi.

Trước hết, bạn phải biết mười thiên can và 12 địa chi này.

10 thiên can

Giáp Ât Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý 12 địa chi

Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi

Mười thiên can ghép với 12 địa chi họp thành 22 can chi, quan hệ đến cuộc đời bạn. Bạn phải cố gắng nhớ 22 can chi này. Nếu bạn không nhớ được, bạn không thể tính toán theo những nguyên lý đằng sau nó và sẽ ảnh hưởng đến việc hiểu và vận dụng ngũ hành.

Thực ra những nguyên lý này không có gì khó, hầu hết các bạn đều hiểu đuợc nguyên lý của ngũ hành.

Nguời xua tính vận năm nhu thế nào? Đó là ghép hai nhóm thiên can địa chi lại với nhau. Phucmg pháp là một thiên can ghép với một địa chi, thí dụ Giáp ghép với Tý, Ất ghép với Sửu, Bính ghép với Dần, cứ thế tiếp tục. Sau khi hoàn thành Quý ghép với Dậu, thì lấy Giáp của thiên can ghép với Tuất của địa chi, Ât ghép với Hợi, sau đó Bính ghép với Tý. Cứ thế hoàn thành việc ghép mọi thiên can với địa chi, khi trở lại Giáp ghép với Tý thì đã có 60 tổ họp, 60 tổ họp này gọi chung là một Giáp tử.

Ngũ Tý là tên gọi chung của tổ họp từ Giáp Tý đến Bính Tý, sau đó đến Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý.

Từ Giáp Tý đến Bính Tý là 12 năm, gọi là một vận Thủy, vì vận Giáp Tý thuộc Thủy, lý do là Hà đồ và Lạc thu cho số 1 là Thủy nên gán cho Giáp Tý thuộc vận Thủy.

Tiếp đến 12 năm Bính Tý thuộc vận Hỏa.

Bắt đầu từ năm Mậu Tý 2008, bao gồm năm Canh Dần 2010, đến năm Ất Hợi cuối cùng, vận Mậu Tý của 12 năm này thuộc vận Hỏa.

Tiếp đến 12 năm Canh Tý thuộc vận Kim.

Trên đây gọi là vận Ngũ Tý. Một vận Ngũ Tý hoàn tất sẽ bắt đầu lại từ đầu, tức là hoàn thành 60 năm của một Giáp tử.

Bắt đầu từ năm 1996, buớc vào vận Hỏa 12 năm, tức vận Bính Tý trong vận Ngũ Tý. Thủy 1 2 3 45 6 7 8 9 10 11 12

Giáp Tý Ất Sửu Bính Dần Đinh Mão Mậu Thìn Kỷ Tỵ Canh Ngọ Tân Mùi Nhâm Thân

Quý Dậu Giáp Tuất Ất Hợi

Hỏa 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24

Bính Tý Đinh Sửu Mậu Dần Kỷ Mão Canh Thìn Tân Tỵ Nhâm Ngọ Quý Mùi Giáp Thân Ất Dậu Bính Tuất Đinh Hợi Mộc 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36

Mậu Tý Kỷ Sửu Canh Dần Tân Mão Nhâm Thìn Quý Tỵ Giáp Ngọ Ất Mùi Bính Thân

Đinh Dậu Mậu Tuất Kỷ Hợi

Kim 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48

Canh Tý Tân Sửu Nhâm Dần Quý Mão Giáp Thìn Ất Tỵ Bính Ngọ Đinh Mùi Mậu Thân Kỷ Dậu Canh Tuất Tân Hợi Thổ 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60

Nhâm Tỷ Quý Sửu Giáp Dần Ất Mão Bính Thìn Đinh Tỵ Mậu Ngọ Kỷ Mùi Canh Thân Tân Dậu Nhâm Tuất Quý Hợi

Sau năm Bính Tý là Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi. Năm 2003 là năm Quý Mùi. Đến năm 2007 Đinh Hợi, 12 năm này là vận Hỏa do Bính Tý dẫn đầu. Từ năm 2008 đến năm 2019 là vận Mộc do Mậu Tý dẫn đầu.

Sau vận Mậu Tý theo thứ tụ sẽ là vận Kim do Canh Tý dẫn đầu và vận Thổ do Nhâm Tý dẫn đầu, sau khi hoàn thành 60 năm một giáp tử lại trở về vận Thủy của Giáp Tý.

Do đó chúng ta cũng có thể dụ kiến rằng thế hệ khuyết Mộc và Kim sau này sẽ có tucmg lai tốt hơn.

Đây chính là thế vận, tức là khí vận của trái đất đã sinh ra sụ biến đổi này.

Nguời khuyết Thuỷ là những nguời khổ nhất trong thế vận này, vì thế vận là kẻ địch. Thế vận không có trợ lục gì đối với bạn, bạn chỉ có thể tụ cứu mình dựa vào vận Thủy trong bát tụ, bởi vậy thành tựu hiện tại của bạn chỉ có thể giúp bạn duy trì bản thân chứ không thể ảnh huởng đến nguời khác.

Phucmg pháp tín vận Ngũ Tý là một phuơng pháp tính toán rất chính xác, bạn tham khảo sẽ biết rằng thời vận và môi truờng hiện thời không ủng hộ nguời khuyết Thủy.

phương pháp cho người khuyết kim

5. HÀNH THỦY CỦA VẬN NĂM

Sau khi trình bày về ngũ hành của thời thế, tôi sẽ trình bày về ngũ hành của vận năm.

Thí dụ nhu năm 2003, là năm Quý Mùi.

Nguời khuyết Thủy cần biết rằng, về bát tụ học, chủng tử của Thủy là “Nhâm” Thủy, “Quý” Thủy, “Hợi” Thủy, “Tý” Thủy, “Sửu” Thổ, “Thìn” Thổ và “Thân” Kim, tổng cộng có 7 chữ đại diện cho Thủy, Nhâm và Quý là thiên can, 5 chữ còn lại là địa chi.

Năm 2003 là năm Quý Mùi. Chữ Quý là Thủy, nhung chữ Mùi lại là Thổ nóng.

THUỘC TÍNH ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CỦA THIÊN CAN ĐỊA CHI

Thuộc tính âm duơng ngũ hành của thiên can

Thiên can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý

Ảm dương Dương Âm Dương Âm Dương âm Dương Âm Dương Âm

Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy

Thuộc tính âm dương ngũ hành của địa chi

Địa chi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi

Âm dương Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm

Ngũ hành Thủy Thổ Mộc Thổ Hỏa Thổ Kim Thổ Thủy

Người khuyết Thủy gặp Thủy đáng lẽ phải mừng. Năm 2002 là năm Nhâm Ngọ, chữ Nhâm cũng là Thủy, nhưng năm 2002 cũng giống như năm 2003, Thủy mà bạn gặp không thể mang lại vị ngọt ngào cho bạn, người khuyết Thủy chưa chắc đã hành vận, lý do chính là chữ Quý trông coi nửa đầu năm, chữ Mùi trông coi nửa cuối năm.

Vì thế bạn không phải nghi hoặc liệu vận trình năm Quý Mùi thuộc Thủy hay thuộc Hỏa, vì thiên can trông coi nửa đầu năm, địa chi trông coi nửa cuối năm.

Bạn cũng cần biết rằng, nửa đầu năm là tiết lệnh xuân hạ, nửa cuối năm là tiết lệnh thu đông.

Xuân hạ là mùa Mộc Hỏa vượng, còn thu đông là mùa Kim Thủy vượng.

Năm 2003 là năm Quý Mùi, nửa đầu năm hành vận Thủy va chạm vào nửa cuối năm Mộc Hỏa cường thịnh, mùa thu đông nửa cuối năm vốn có rất nhiều Kim Thủy, nhưng lại gặp vận năm thuộc Hỏa. Vì thế bắt đầu từ năm Nhâm Ngọ 2002, tuy vận năm xuất hiện Nhâm Thủy và Quý Thủy, nhưng người khuyết Thủy không thể hành vận, lý do là Thủy của hai năm đều đi vào Mộc Hỏa của mùa xuân hạ nên bị kiềm chế, hai Thủy này đều không thể phát huy tác dụng.

Nửa cuối năm thu đông là lúc Kim Thủy thịnh vượng, đáng tiếc địa chi của nửa cuối năm là Hỏa, khiến cho nửa cuối năm cũng không được Kim Thủy tưới nhuần.

Người khuyết Thủy phải đợi đến năm Giáp Thân 2004, khi Thân Kim của nửa cuối năm gặp mùa thu thì mới có thể thật sự nhận được vận Thủy của nửa cuối năm. Bởi vậy cần thông cảm với người khuyết Thủy, vì mấy năm này thực sự mất vận nghiêm trọng.

Năm 2010 là năm Canh Dần. Chữ Canh trông coi nửa đầu năm thuộc Kim, Kim có thể sinh Thủy nên nửa đầu năm có vận Thủy tương đối tốt. Chữ Dần trông coi nửa cuối năm thuộc Mộc, Mộc khắc Hỏa, vận Thủy nửa cuối năm sẽ bị ảnh hưởng một chút.

6. HÀNH THỦY CỦA VẬN THÁNG

Sau khi biết rõ vận năm, bạn phải xem vận tháng. Bạn cần biết trong một năm thì tháng nào có nhiều Thủy nhất.

Trong một năm, tháng nhiều Thủy nhất là các tháng mùa thu và mùa đông.

Trong một năm có bốn chữ “lập” là lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, lập thu là Kim vuợng, lập đông là Thủy vuợng, lập xuân là Mộc vuợng, lập hạ là Hỏa vuợng. Đó chính là ngũ hành của bốn mùa.

Nguời khuyết Thủy về cơ bản phải đợi đến sau lập đông mới có thể hành vận. Lập đông là ngày 8 tháng 11 hàng năm. Vì thế, nếu bạn khuyết Thủy thì phải đợi đến ngày 8 tháng 11 cho đến ngày 4 tháng 2 năm sau mới có thể nhận đuợc vận tốt của ba tháng.

Sách “Trích thiên tủy” viết: “Tiết khí trông coi Nhật nguyên, là tài của quỷ, ma của tâm. Hàng phục đuợc nó thì thành nghề, đánh bại đuợc nó thì thành nhân”.

Sách nói tại sao chúng ta phải luu ý đến tháng sinh, là bởi tháng là phận duy nhất không chế ngũ hành bát tụ, năm không có ngũ hành, nhung tháng có ngũ hành, vì tháng có phân biệt bốn mùa, mùa hè là Hỏa nóng, mùa đông là Thủy giá lạnh. Tháng sinh của mỗi nguời ảnh huởng đến ngũ hành.

Nguời sinh vào tháng nào thì tháng đó chính là “tài quỷ, ma tâm” của nguời đó.

Ma nghĩa là không bị Nhật nguyên khống chế. Khi Nhật nguyên mạnh sẽ có thể khống chế ma, nhung Nhật nguyên yếu thì bị ma không chế.

“Hàng phục đuợc nó thì thành nghề, đánh bại đuợc nó thì thành nhân” nghĩa là chỉ cần khống chế đuợc con ma này thì sẽ thành công.

7. VẬN DỤNG NGŨ HÀNH

Một số nguời sẽ hỏi: “Tháng thì có thể dùng Phi tinh để tính phuơng vị không?”. Một số nguời sẽ hỏi: “Ngày, giờ có thể dùng Phi tinh để tính không?”.

Câu trả lời là bất kể năm, tháng, ngày hay giờ đều có thể tính phuơng vị của Phi tinh. Nhung vấn đề là sao bay của bạn quá nhiều thì sẽ gây rối loạn. Do đó theo kinh nghiệm, tìm đuợc sao năm đã quá đủ. Nếu muốn tính sao tháng và sao ngày thì mỗi ngày bạn đều phải di chuyển đồ vật trong nhà, đó là điều phi thực tế.

Con nguời không thể bị phong thủy quay lại kiểm soát sinh hoạt thuờng ngày, đó là thứ nhất.

Thứ đến là bí mật của Ngũ hành, đó là giúp mỗi hành đều được điều hoà. Ý nghĩa của mệnh khuyết là bạn cần một hành nào đó hcm cả, nhưng không có nghĩa là bạn coi bốn hành còn lại là thù địch, do đó bạn đừng làm quá, không cần vứt bỏ mọi loại đồ kim loại, cũng không phải cứ nhìn thấy Kim là quay đi hướng khác.

Ý nghĩa của khuyết Thủy là bạn cần nhiều Thủy hơn, nhưng không có nghĩa là sinh ra oán hận đối với các hành khác, mọi thứ đều phải đúng mức.

Viết một bình luận