Tìm Kiếm Phúc Vận Trong Hỏa Học Về Mệnh Khuyết Để Biết Cách Khai Vận

1. KHÁI NIỆM KHUYẾT HỎA CỦA NGŨ HÀNH

Trước khi học Bát tự, bạn phải có khái niệm cơ bản về ngũ hành.

Ý nghĩa của khuyết Hoả không phải là bạn chỉ cần hành Hoả, một số người khuyết Hoả, hoặc Hoả Thổ, một số người thậm chí khuyết Hoả và khuyết cả Thuỵ.

Bởi vậy bạn cần lấy hành Hoả, nhưng sẽ không tránh các hành khác, lý do là bạn có thể cũng cần một hành nào đó trong ngũ hành.

Bạn học thuyết khuyết Hoả, trước hết phải có khái niệm thế nào là Hoả. Có người hỏi “kim cương có phải là Hoả không? Vì người ta nói kim cương có Hoả”.

Cũng có người hỏi: “Tức giận có phải là Hoả không? Vì tức giận là “phát hoả””

Hoả của tức giận và kim cương chỉ là một cách mô tả chứ không phải là sự việc hoặc sự vật đó có chứa Hoả tính.

Có người hỏi: “Tôi đã mặc trang phục màu đỏ, nhưng sao tôi vẫn chưa hành vận?”.

mệnh hỏa

Tuy bạn đã mặc đồ màu đỏ, nhưng đồng thời bạn lại làm những việc không nên làm, thí dụ hàng ngày bạn đeo đồng hồ vàng, ăn cá, đồng thời lại lấy rất nhiều hành Kim, hành Thuỵ, kết quả là Hoả tính bị áp chế, nên đương nhiên bạn không để nhận được hiệu quả như mong muốn.

Bởi vậy bạn phải phối hợp trên rất nhiều phương diện mới có thể cải vận cho mình thành công.

Như ở phần trước đã đề cập, bạn phải tận dụng thức ăn để cải vận, khi ăn phải ăn duy nhất một thứ, không được ăn chung với các thức ăn khác. Thí dụ bạn ăn thịt dê, bạn chỉ được ăn thịt dê trong bữa đó, không được đồng thời ăn thịt heo, thịt bò… Nếu bạn muốn ăn thịt dê để cải vận thì phải liên tục ăn trong mấy ngày mới đạt kết quả. Nếu hôm nay ăn thịt dê, ngày mai, ngày kia ăn các thứ thịt khác như gà, bò, heo thì rốt cuộc thịt dê lại là ăn ít nhất, còn các thứ thịt khác lại là ăn nhiều.

Chẳng hạn người khuyết Hoả phải uống nước táo đỏ, vậy thì phải uống liên tục hàng ngày. Hoặc trái cherry và cà chua cũng có rất nhiều Hoả.

Ngoài ra, cà rốt thuộc Hoả, thường ngày bạn ăn sống sẽ rất hiệu quả, nhưng không được ăn sống quá nhiều cà rốt, sẽ dễ bị ngộ độc.

Người khuyết Hoả nên thường xuyên uống nước cà chua, hoặc ăn súp bí ngô cũng rất có ích. Người khuyết Hoả tốt nhất không được uống rượu vào thời gian thuộc Hoả hoặc nơi tụ Hoả, nếu không lượng “Hoả” quá nhiều sẽ gây sự cố.

Bạn đã biết rằng ngũ hành rất quan trọng đối với mỗi người. Thí dụ bạn khuyết Hoả thì đương nhiên lái xe không có vấn đề gì. Nhưng nếu vợ bạn kỵ Hoả thì bạn hãy bảo vợ chờ ở cửa nhà gửi xe, không đi cùng bạn vào nhà gửi xe sẽ hút hết Hoả tính vào người. Người nhà khuyết Hoả có thể cùng bạn vào nhà gửi xe, nhưng nếu không phải là người khuyết Hoả thì tốt nhất chỉ đứng chờ ở cửa, điều này cũng có chút phân biệt.

Những việc nhỏ nhặt như vậy giúp bạn tích lũy lý thuyết về khuyết Hoả để có phản ứng trong cuộc sống thường ngày mới có thể lấy được đầy đủ ngũ hành trong không gian sống.

2. KHÁI NIỆM KHUYẾT HOẢ TRONG PHONG THUỶ

Một vấn đề bạn thường xuyên gặp phải là ngũ hành của mỗi người trong nhà đều không giống nhau, rất khó chiều theo nhu cầu của từng người, đây là vấn đề phổ biến của mọi gia đình.

Giải quyết vấn đề này thực ra rất đơn giản, bạn chỉ cần đặt món đồ phù hợp với bạn ở vị trí thuộc về bạn. Thí dụ bạn làm việc ở bàn, đó chính là phạm vi hoạt động thuộc về bạn, bạn bài trí trong phạm vi đó. Hay như ở góc đó bạn ngủ, có thể chọn màu phù hợp với mình.

Bởi vậy vấn đề chỉ xảy ra ở nơi dùng chung, thí dụ bạn cần đặt một cái đèn chong ở đại sảnh. Cách giải quyết là dùng những phương vị khác nhau của cửu cung, đặt ở phương vị đại diện cho các thành viên gia đình khác nhau.

Người khuyết Hoả cũng có một phương thức bài trí khác là tìm phương vị đại diện trong nhà bếp, thí dụ bà chủ gia đình thì đặt nồi cơm điện hay bếp đun ở Khôn vị. Nếu hai thứ này không thể đặt được, có thể lắp một cái đèn đỏ.

Nếu ngay cả đèn đỏ cũng không lắp được, có thể đặt một chậu cây ớt ở vị trí đó, cũng sẽ trợ vượng vận Hoả mà không cần di chuyển bếp đun hay đồ điện.

Tóm lại dù ở bất kỳ nơi nào, bạn cũng đều có thể vẽ chỗ đó thành chín ô, sau đó bài trí ở phương vị thuộc về mình.

Người khuyết Hoả thường cũng khuyết Mộc, do đó thể dục buổi sáng rất phù hợp. Khi thể dục buổi sáng, nếu là nữ, hãy tập ở phía tây nam, như thế sẽ hấp thu được hành mà bạn cần.

Ngoài ra, mỗi ngôi nhà đều có hoả vị riêng theo toạ hướng khác nhau.

Bạn không cần đứng ngồi ở phương vị đó mà chỉ cần đặt đồ vật thuộc Hoả ở đó là có thể tăng cường Hoả tính.

Nếu bạn ngủ ở phương vị đó là tốt nhất. Nhưng nếu không thể thì cũng không cần cải tạo lại toàn bộ căn nhà, chỉ cần bài trí đồ vật phù hợp ở phương vị đó là được.

Bản thân bát tự của người khuyết Hoả đã rất lạnh lẽo, tình trạng này phản ánh trên cơ thể của bạn, dễ có vấn đề về tim và máu. Nhưng người có Hoả tính quá mạnh cũng dễ mắc những bệnh này. Do đó người thiếu Hoả cực độ, hoặc người thiếu Thuỷ cực độ đều mắc bệnh như nhau, bạn cần lưu ý.

3. XẾP VẬN MỆNH BÀN CỦA CHÍNH MÌNH

Trước tiên bạn phải học cách sắp xếp bát tự. Trước hết bạn hãy ôn lại 10 thiên can, đó là: 1 2 3 4 5

Thiên can Giáp Ất Bính Đinh Mậu

Âm dương Dương + Âm – Dương + Âm – Dương +

6 7 8 9 10

Thiên can Kỷ Canh Tân Nhâm Quý

Âm dương Âm – Dương + Âm – Dương + Âm – Thiên can được phân chia thành âm dương:

Thiên can thứ 1, 3, 5, 7, 9 thuộc dương (+)

Thiên can thứ 2, 4, 6, 8, 10 thuộc âm (-)

Theo lý thuyết:

Nam giới thuộc dương tính, gọi là mệnh Càn, tức là “chính” (dương).

Nữ giới thuộc âm tính, gọi là mệnh Khôn, tức là “phụ” (âm).

Nam giới thuộc dương, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (dương) (dương) = (dương), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy xuôi.

Nam giới thuộc dương, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (âm) (dương) = (âm), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy ngược.

Nữ giới thuộc âm, nếu can ngày của năm sinh là dương tính thì (âm) (dương) = (âm), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy ngược.

Nữ giới thuộc âm, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (âm) (âm) = (dương), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy xuôi.

Mỗi người đều có giờ, ngày, tháng, năm sinh, hãy chia thành tám ô như hình dưới.

Năm Tháng Nhật nguyên Giờ (+) (+) = +

(+) (-) = – (-) (-) = +

(-) (+) = –

Thí dụ một người sinh vào giờ Tuất ngày 22 tháng 8 năm 1950. Từ lịch vạn niên, tra được Thiên can và Địa chi của ngày 22 tháng 8 năm 1950 là “Kỵ Sửu”. “Kỵ Sửu” này gọi là Nhật nguyên.

Thiên can Địa chi của tháng được xác định theo tiết khí. Căn cứ vào Nguyệt kiện của 24 tiết khí, tìm được ngày 8 tháng 8 đến ngày 8 tháng 9 dương lịch là tháng Thân, tra lịch vạn niên biết Thiên can Địa chi của tháng Thân là “Giáp Thân”.

Khi tra lịch vạn niên, có thể thấy ngày 8 tháng 8 là ngày Lập thu, giờ bạn cần tìm là 10 giờ 54 phút giờ Mão ngày 25 âm lịch.

Từ lịch vạn niên, tìm được năm 1950 là năm Canh Thân, đến đây thì Thiên can Địa chi của ngày, tháng, năm đều đã tìm được.

Muốn tìm Thiên can của giờ Tuất, cũng chỉ cần ra lịch vạn niên. Trong lịch vạn niên, tìm được Thiên can của giờ Tuất. Do Nhật nguyên của ngày sinh là Kỵ Thổ, nên Thiên can Địa chi của giờ Tuất là Giáp Tuất, do đó Bát tự của người này như sau.

Giờ Tuất ngày 22 tháng 8 năm 1950 NHẬT NGUYÊN Ất Giáp Canh Mùi Thân Ngọ

về phương diện giờ, không cần phải chia thành “giờ Tý ngày” hay “giờ Tý đêm”, tóm lại cứ bước qua 11 giờ đêm là được tính vào giờ tý của ngày hôm sau. Cách tính này là chuẩn xác, không cần chia giờ Tý thành ngày và đêm.

Do môi trường xã hội không ngừng thay đổi, nên lý thuyết được truyền lại từ xưa chưa hẳn đã hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện nay, bạn cần lược bỏ những lý thuyết không hợp thời, giữ lại những thứ hữu dụng.

Bạn phải xếp Đại vận cho Bát tự nêu trên, mỗi mười năm là một Đại vận, xếp ra Thiên can Địa chi của tám Đại vận, tức đại diện cho 80 tuổi thọ của con người.

Xếp tám Đại vận là thuận theo yêu cầu của người bình thường. Nếu bạn xếp quá ít thì người ta nhìn vào sẽ cho rằng tuổi thọ của mình rất ngắn, do đó tốt nhất bạn hãy xếp ít nhất là tám Đại vận.

Bát tự trên đây là của một người phụ nữ, phụ nữ thuộc Khôn, tức là là âm tính.

Thiên can của năm trên là “Canh”, thuộc dương tính, do (âm) (dương) = (âm), nên phương pháp sắp xếp của Bát tự này là suy ngược.

Suy ngược có nghĩa là đếm ngược từ ngày 22 tháng 8 đến tiết lệnh trước đó, coi mỗi ba ngày là một năm, từ đó tính xem Bát tự này khởi vận từ tuổi nào.

Nếu bát tự trên là nam giới thì thuộc Càn, tức là dương tính. Thiên can là “Canh”, thuộc dương, nên (dương) (dương) = (dương), phương pháp sắp xếp là suy xuôi.

Suy xuôi nghĩa là đếm xuôi từ ngày 22 tháng 8 đến tiết lệnh sau đó, coi mỗi ba ngày là một năm, từ đó tính xem bát tự này khởi vận từ tuổi nào.

Dùng phương pháp suy ngược để xếp Đại vận cho Bát tự trên.

Theo lịch vạn niên, từ ngày 22 tháng 8 đếm ngược đến tiết lệnh trước đó là ngày Lập thu tức ngày 8 tháng 8, từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 22 tháng 8 là 14 ngày, mỗi ba ngày là một năm, thừa ra một ngày thì không tính, thừa ra 2 ngày thì tính là một năm. Do đó 14 ngày tính là 5 năm, bát tự này khởi vận tức năm 5 tuổi.

Nếu dùng phương pháp suy xuôi thì từ ngày 22 tháng 8 đếm đến tiết lệnh sau đó là Bạch lộ ngày 8 tháng 9, từ ngày 22 tháng 8 đến ngày 8 tháng 9 là 17 ngày, mỗi ba ngày là một năm, thừa ra một ngày thì không tính, thừa ra hai ngày thì tình là một năm. Vậy 17 ngày tính là 6 năm, tức Bát tự của người đàn ông này khởi vận từ năm 6 tuổi.

Nếu bát tự tính bằng cách suy ngược, thì Thiên can Địa chi của mỗi Đại vận sẽ được tính ra bằng cách suy ngược theo Thiên can Địa chi của tháng sinh, tức tháng sinh là Canh Thân, thì Thiên can Địa chi của tháng trước đó là Quý Mùi, tháng trước nữa là Nhâm Ngọ, từ đó suy ra Đại vận của Bát tự.

Nếu Bát tự tính bằng cách suy xuôi, thì Thiên can Địa chi của mỗi Đại vận sẽ được tính ra bằng cách suy xuôi theo Thiên can Địa chị của tháng sinh. Tức là tháng sinh là Giáp Thân thì Thiên can Địa chi của tháng tiếp theo là Ât Dậu, nên Đại vận thứ nhất là Ât Dậu, Đại vận tiếp theo là Bính Tuất, cứ thế tiếp tục.

52

5 15 25 35 45 55 65 75

Quý Mùi Nhâm Ngọ Tân Tỵ Canh Thìn Kỵ Mão Mậu Dần Đinh Sửu Bính Tý Bạn cần lưu ý là tính bát tự phải tính theo tuổi thực.

Tuổi mụ tức là tính cả thời gian còn nằm trong bụng mẹ. Ngày thụ thai chúng ta gọi là Thai nguyên. Do Bát tự có sau khi sinh, nên Bát tự không tính cả tuổi mụ.

Vậy cái gì thì tính cả tuổi mụ? Diện tướng (xem tướng mặt) tính cả tuổi mụ, bởi tướng mạo đã được hình thành từ trong bụng mẹ, do đó xem diện tướng phải tính cả tuổi mụ, xem tướng bàn tay cũng phải tính cả tuổi mụ, nhưng Bát tự thì chỉ tính tuổi thực.

mệnh hỏa mùa đông

4. PHÊ TOÁN BÁT TỰ

Người phụ nữ nêu trên sinh năm 1950, 10 năm từ 45-55 tuổi do hai chữ Kỵ Mão trông coi, chữ Kỵ trông coi 5 năm đầu, chữ Mão trông coi 5 năm cuối. Sau khi hành xong vận Thổ của chữ Kỵ, lại bước vào vận Mộc của chữ Mão, điều này cho thấy khoảng thời gian từ 50-55 tuổi hành vận Mộc. Ở 60-65 tuổi, lại bước vào đại vận có cả Mộc lẫn Hoả, bởi vì chữ Dần đại diện cho Mộc Hoả.

Ở phần trước bạn đã biết 9 hạt giống đại diện cho Ho ả, đó là:

  1. Dần
  2. Tỵ
  3. Ngọ
  4. Mùi
  5. Tuất
  6. Tỵ Ngọ Mùi – cục Hoả tam hội
  7. Dần Ngọ Tuất – cục Hoả tam hợp
  8. Mậu Quý – hợp Hoả
  9. Mão Tuất – Hợp Hoả

Chín hạt giống trên là chữ và tổ hợp của Hoả.

Sự hợp thành Hoả của Mậu Quý và Mão Tuất, phải ở trong tháng của Hoả mới có thể hợp hóa, tức là phải ở trong ba tháng Tỵ, Ngọ, Mùi, trong đó tháng Ngọ dễ biến thành Hoả nhất. Ngoài mấy tháng này, Mậu Quý không thể biến thành Hoả, tức là hợp mà không hóa.

Bát tự nêu trên hành vận Mão Mộc, canh giờ là giờ Tuất, Mão Tuất hợp thành Hoả nhưng không hóa được, nguyên nhân là sinh tháng Thân, mà khống chế sự hợp hóa trong Bát tự chính là tháng sinh. Do tháng đó không phải là Tỵ Ngọ Mùi nên tuy đang hành vận Hoả nhưng vận Hoả đó không thể phát huy được công hiệu.

Điều này giống như bạn mua pin về nhà nhưng số pin đó đã không còn sử sụng được, hoặc bạn mặc áo đỏ nhưng chất vải bên trong lại là màu xanh, như thế gọi là hợp mà không hóa.

Nhật nguyên của người phụ nữ này là Kỷ Thổ, theo Bát tự thì bà phải mập mạp mới chống lại được ngũ hành bất lợi. Do bà quả thực là một người mập mạp, điều này cũng cho thấy bà khuyết Hoả, nên cần có thân hình mập mạp để cân bằng hành bị khuyết. Từ đó suy đoán, khi bà 60 tuổi, tự nhiên sẽ gầy đi, vì khi đó bà hành yận Hoả.

Hiện nay người phụ nữ này rất thích ăn uống, thường xuyên phải làm cho mình có cảm giác no, lý do là khuyết Hoả, do Hoả sinh Thổ, trường hợp này Bát tự gọi là khuyết ấn. Những người khuyết ấn thì cả đời đều phải giữ quan hệ mật thiết với mẹ, đó là điều thứ nhất. Thứ đến là những người khuyết ấn phải thường xuyên ăn và ngủ. Ngoài ra, người khuyết ấn cũng phải không ngừng trau dồi kiến thức và đọc sách.

Bây giờ bạn muốn tìm xem Nhật nguyên ngày sinh của mình là gì, tức tìm thiên can ngày sinh, bạn tìm trong lịch vạn niên lịch là biết ngay.

Trong thiên can, Giáp Ất thuộc Mộc, Bính Đinh thuộc Hoả, Mậu Kỷ thuộc Thổ, Canh Tân thuộc Kim, Nhâm Quý thuộc Thuỷ.

5. NGƯỜI KHUYẾT HOẢ CÓ NHẬT NGUYÊN GIÁP ẤT

Phàm những người có Nhật nguyên thuộc Giáp Ất, do sao của Hoả bay vào cung Lộc Thần, nên cả cuộc đời không phải lo cơm áo, cơ hội phát đạt cao hơn hẳn những người khuyết Ho ả khác.

Người khuyết Hoả có Nhật nguyên như trên phải sống ở những nơi liên quan đến ngựa và lửa. Nếu bạn không sống ở những nơi đó thì treo trong nhà một bức tranh ngựa cũng sẽ có công hiệu tương tự.

Ngoài ra nếu bạn biết lái xe thì tốt nhất lên lái xe màu đỏ, sẽ giúp bạn có nhiều cơ hội.

Người có Nhật nguyên là Ât Mộc mà khuyết Hoả, nguyên nhân giàu có ắt có liên quan đến văn hóa nghệ thuật.

Người có Nhật nguyên Giáp Mộc, Ât Mộc mà khuyết Hoả, cả cuộc đời cần tình yêu, phải yêu mới có thể hành vận. Dù bạn đã kết hôn nhưng vẫn đòi hỏi phải không ngừng yêu chồng hoặc vợ mình, nếu không bạn sẽ thấy cuộc đời hoàn toàn vô nghĩa, đây là đặc trưng lớn nhất của người có Nhật nguyên Giáp Mộc, Ât Mộc mà khuyết Hoả.

Có nghĩa là người có Bát tự này thông thường đều có vận Đào hoa tương đối tốt, có thể tìm được nhân duyên mỹ mãn, được bạn đời yêu thương.

Nữ giới Giáp Ât Mộc mà khuyết Hoả thì cả đời phải ở chung với con cái, con cái càng đông thì càng hành vận, vì con cái chính là Hoả. Bạn phải dồn mọi thứ cho con cái, vì nửa cuối đời của bạn gắn với con cái.

Người có Nhật nguyên Giáp Ât Mộc mà khuyết Hoả phải thường xuyên sáng tạo, tức là phải thường xuyên suy nghĩ mới có thể hành vận. Bởi vậy không ngừng sáng tạo, sống chung và chia sẻ với con cái là đặc trưng của nữ giới Giáp Ât Mộc.

Nam giới Giáp Ât Mộc mà khuyết Hoả phải thường xuyên động não, thường xuyên vận động.

Tóm lại, người Giáp Ât Mộc, phải không ngừng hoạt động, không ngừng suy nghĩ.

Nữ giới phải sinh nhiều con, nam giới phải có nhiều học trò hoặc con nuôi. Nam nữ Giáp Ât Mộc đều cần nhiều con đẻ hoặc con nuôi, có thể yên tâm đầu tư cho con cái, vì cuối cùng con cái sẽ đền đáp. Dù bạn có đầu tư cho con cái hay không thì nửa cuối đời các bạn cũng sẽ được con cái nuôi dưỡng.

Người Giáp Ât Mộc mà khuyết Hoả dễ bị sỏi mật, cũng dễ bị nóng gan, nóng gan dễ sinh ra mụn, cũng dễ bị stress.

Nhật nguyên Giáp Ât

Trợ Hoả Nên ở những nơi tụ Hoả, làm nghề liên quan đến văn hóa nghệ thuật, luôn suy nghĩ, sáng tạo, nhiều con cái, năng vận động.

Bệnh tật Dễ bị sỏi mật, nóng gan, nổi mụn, dễ bị stress.

6. NGƯỜI KHUYẾT HOẢ CÓ NHẬT NGUYÊN BÍNH ĐINH

Người khuyết Hoả có Nhật nguyên Bính Đinh, bất kể nam nữ, phải giữ quan hệ tốt đẹp với anh chị em. Nếu có anh chị em hoặc bạn bè cùng tuổi thì hãy cố gắng giữ bên mình mới có thể giúp bạn hành vận.

Người có Nhật nguyên Bính Đinh phải trưng nhiều ảnh chụp của mình trong nhà, tức là phải yêu mình một cách cuồng nhiệt, cũng phải có thật nhiều bạn bè, vì bạn thân yếu và thiếu Hoả cực độ.

Bạn phải thường xuyên gặp gỡ anh chị em, giữ mối quan hệ tốt.

Khi gặp khó khăn, bạn có thể nhờ anh chị em giúp đỡ. Tóm lại, bạn cố gắng liên hệ mật thiết với anh chị em, như thế có thể mang lại vận tốt.

Người có Nhật nguyên Bính Hoả và Đinh Hoả cả đời có duyên với trường học.

Người có Nhật nguyên này tốt nhất nên làm giáo viên, người có bát tự này cũng có thể làm nghề dựa vào tài ăn nói, sẽ mang lại vận tốt. Bạn nên học ngôn ngữ, hoặc dùng tài ăn nói để mưu sinh.

Người có hai Hoả Bính Đinh nếu khuyết Hoả thì dễ gặp vấn đề về tim và máu.

Người có Nhật nguyên Bính Hoả nữ giới dễ mắc bệnh phụ khoa, bệnh tử cung…, cũng dễ mắc các bệnh về nội tiết.

Nhật nguyên Giáp Ât

Trợ Hoả Giữ mối quan hệ tốt đẹp với anh chị em, nên trưng nhiều ảnh chụp của mình trong nhà, mưu sinh bằng tài ăn nói.

Bệnh tật Dễ gặp vấn đề về tim và máu, nữ giới dễ mắc bệnh phụ khoa.

7. NGƯỜI KHUYẾT HOẢ CÓ NHẬT NGUYÊN MẬU KỶ

Người khuyết Hoả có Nhật nguyên Mậu Kỵ, bát tự cho thấy tốt nhất là ở chung với mẹ và kết hôn muộn. Những người này hay ăn và ngủ, phải giữ cho cơ thể khỏe mạnh mới có thể nhận được vận Ho ả.

Nữ giới thuộc Thổ mà khuyết Hoả, cho thấy chức năng phổi và dạ dày tương đối kém.

Nữ giới Mậu Thổ mà khuyết Hoả cũng rất dễ mắc bệnh phụ nữ và bệnh da do mất cân bằng hormone.

Nhật nguyên Giáp Ât

Trợ Hoả Tốt nhất sống chung với mẹ, nên kết hôn muộn, phải giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Bệnh tật Chức năng phổi và dạ dày tương đối kém, nữ giới dễ mắc bệnh phụ khoa và bệnh da.

8. NGƯỜI KHUYẾT HOẢ CÓ NHẬT NGUYÊN CANH TÂN

Người khuyết Hoả có Nhật nguyên Tân Kim phải tự lập nghiệp mới có thể hành vận. Dù bạn buôn bán nhỏ cũng phải làm cho thật tốt, bởi thành tựu tự lập nghiệp sẽ tốt hơn so với đi làm thuê.

Điều này có nghĩa là những người có bát tự này bẩm sinh đã có nhiều quý nhân phù trợ, cũng rất dễ nhận được tài sản thừa kế.

Người có Nhật nguyên Canh Kim mà khuyết Hoả thì cả đời sống vất vưởng, vì Canh Kim mà thiếu Hoả thì có nghĩa không thể mài luyện thành tài đuợc, những nguời này vận tuơng đối xấu.

Nữ giới mang vận Canh Kim thì vận chồng tuơng đối kém, bản thân Bát tự thuộc mệnh cứng, thuờng sống bình ổn cả đời.

Nguời mệnh Canh Kim thuờng khuyết Hoả, loại Hoả này khiến dễ bị trách mắng, vì nguời mệnh Canh Kim khuyết Hoả phải không ngừng trui rèn, tức là phải không ngừng bị trách mắng mới có thể thành tài.

Bởi vậy nguời thuộc Canh Kim mà khuyết Hoả phải đối mặt với thực tế là thuờng xuyên bị trách mắng mới có thể hành vận, vì nhu thế mới nhận đuợc hành Hoả.

Với nữ giới thì chồng là nguời quan trọng nhất, vì Hoả đại diện cho chồng.

Nguời có Nhật nguyên Canh Tân mà khuyết Hoả đều không đủ vận chồng, phải phục vụ chồng mới có vận tốt. Nếu không có chồng hoặc bạn trai thì vận khí tuơng đối kém, phải ở với chồng mới có vận tốt. Bởi vậy, nữ giới mệnh Kim mà khuyết Hoả phải nhanh chóng kiếm bạn trai hay chồng.

Nam giới mệnh Canh Kim mà khuyết Hoả, tốt nhất là làm viên chức nhà nuớc, vì thuộc Canh Kim mà khuyết Hoả là không đủ sao quan, làm viên chức nhà nuớc sẽ bù đắp đuợc thiếu sót này.

Nguời thuộc Kim mà khuyết Hoả rất dễ mắc bệnh đuờng ruột và phổi, nhất là viêm phổi. Nhật nguyên Giáp Ât

Trợ Hoả Nguời mệnh Tân Kim tốt nhất tự lập nghiệp. Nguời mệnh Canh Kim hay bị trách mắng, nữ giới phải thuờng ở bên chồng, nam giới phù hợp với việc làm viên chức. Bệnh tật Dễ mắc bệnh đuờng ruột và phổi.

9. NGƯỜI CÓ NHẬT NGUYÊN NHÂM QUÝ MÀ KHUYẾT HOẢ

Nguời có Nhật nguyên Nhâm Quý mà khuyết Hoả thuờng rất thiếu tiền, phải thuờng

xuyên nỗ lực kiếm tiền, vì có tiền mới giúp cho cơ thể khỏe mạnh.

Nam giới phải kết hôn sớm mới có thể hành vận, yêu đuơng và kết hôn càng sớm thì càng có vận tốt. Nếu chồng thuộc Nhâm Quý mà khuyết Hoả thì vợ tuơng đối bất hạnh, vì chồng càng đào hoa thì vận mệnh càng thoải mái.

Lý do là trong bát tự của những nguời này, Hoả đại diện cho vợ và nguời tình. Nếu khuyết Hoả thì phải tìm càng nhiều tình nhân càng tốt để bể sung cho ngũ hành, càng nhiều tình nhân càng có vận tốt. Bởi vậy nguời Nhâm Quý Thuỷ mà khuyết Hoả là nguời rất đa tình.

Đối với nữ giới, Hoả đại diện cho của cải, khuyết Hoả tức là thiếu của cải, bởi vậy phải có tiền mới có thể hành vận. Người có bát tự này chỉ có một ngôi sao quý nhân Thiên Quan, nữ giới phải dựa vào chồng, nam giới làm viên chức nhà nước.

Người Nhâm Thuỵ mà khuyết Hoả thích nhất là làm nghề có liên quan đến văn hóa nghệ thuật, dù nghề của bạn không liên quan đến văn hóa nghệ thuật thì bạn cũng là kiểu người có văn hóa trong nghề đó.

Nữ giới có Nhật nguyên Nhâm Thuỵ dễ bị mắc bệnh phụ khoa và bệnh da do mất cân bằng hormone.

Nhật nguyên Giáp Ât

Trợ Hoả Phải nỗ lực kiếm tiền, thích hợp kết hôn sớm, làm nghề có liên quan đến văn hóa nghệ thuật.

Bệnh tật Nữ giới dễ mắc bệnh phụ khoa và bệnh da.

10. PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA VẬN TRÌNH HÀNG NĂM

Rốt cuộc hiện tại bạn có đang hành vận không? Điều này tùy thuộc đại vận của bạn có đang ở vận Hoả hay không.

Nếu đại vận của người khuyết Hoả bước vào vận Hoả, có nghĩa bạn đang hành vận.

Từ đại vận của bát tự nêu trên, bạn đã biết mỗi đại vận ảnh hưởng đến thời gian 10 năm. Nhưng trong 10 năm này, có phải mỗi năm đều hành vận?

Câu trả lời là không. Trong 10 năm hành vận Hoả này, có một vài năm có tương đối nhiều Hoả, một vài năm ít hơn. Làm thế nào để tìm được vận Hoả của mỗi năm, tức là tìm được vận hành mỗi năm trong cuộc đời?

Điều này không phải chỉ là thiên can địa chi của năm, thiên can địa chi có ảnh hưởng đến tất cả mọi người.

Ảnh hưởng nhất đến con người trong bát tự là ngũ hành của tháng, vì tháng có bốn mùa với nhiệt độ khác nhau. Còn thời gian trong bát tự cũng có thể khống chế nhiệt độ của ngũ hành, thí dụ buổi trưa có mặt trời thì tương đối ấm, đến tối thì tương đối lạnh.

Muốn biết được bắt đầu từ khi ra đời mỗi năm hành vận nào, phương pháp là dùng phép suy ngược canh giờ.

Lấy bát tự nêu trên làm thí dụ, canh giờ là Giáp Tuất, Giáp Tuất suy ngược đến canh giờ trước là Quý Dậu, Quý Dậu này chính là vận năm hành lúc 1 tuổi.

Quý Dậu suy ngược về trước một canh giờ là Nhâm Thân, tức là lúc 2 tuổi hành vận Nhâm Thân.

Cứ thế suy ra, có thể tính được vận trình mỗi năm trong cuộc đời.

Thí dụ người phụ nữ nêu trên 59 tuổi, tra tìm nạp âm 60 Giáp tử trong lịch vạn niên là tính được bắt đầu từ Quý Dậu, suy ngược về trước 58 canh giờ là Kỵ Sửu, tức là người phụ nữ này hiện đang hành vận Kỵ Sửu.

Nhật nguyên Nam Nữ

Giáp Ât Mẹ vợ, anh chị em mẹ vợ, bà nội, anh chị em của bà nội, học trò Bà nội, con, anh chị em của bà nội, học trò

Bính Đinh Anh chị em ruột, anh em họ, anh em nuôi, chị em họ Anh chị em ruột. Anh em họ, anh em nuôi, chồng, anh chị em chồng

Mậu Kỵ Mẹ, dì, bà trẻ, mẹ nuôi, ông nội, cậu, chú, bác Mẹ, dì, bà trẻ, mẹ nuôi, ông nội, cậu, chú, bác

Canh Tân Con, cháu Chồng, bác, chú, cô, anh rể, em rể

Nhâm Quý Vợ, anh em bên vợ, cha, anh em con chú con bác, chị dâu, em dâu, vợ em họ Cha, chú, bác, bà nội

Điều này cho thấy nửa cuối năm hành vận Thổ. Kỵ, Sửu đều là Thổ ẩm, trong Sửu có Thuỵ, vì nửa cuối năm là mùa Kim Thuỵ vượng thịnh, nên bất lợi cho người mệnh khuyết Ho ả.

Căn cứ vào phương pháp tính toán nêu trên, bạn viết ra vận trình hàng năm, sau đó đối chiếu với thực tế mỗi năm trong quá khứ, bạn sẽ biết bạn có hành vận hay không.

Viết một bình luận