Thiên Cơ Cuộc Sống Trong Mùa Thu Cho Mệnh Mộc

1. NHẬN BIẾT VỀ NGŨ HÀNH

mệnh mộc phong thủy

Trước khi học Bát tự, trước hết chúng ta cần có khái niệm rõ ràng về hành Mộc.

Ý nghĩa của khuyết Mộc không phải là bạn chỉ cần hành Mộc, một số người khuyết Thuỵ Mộc, một số người khuyết Mộc Hoả, một số người thậm chí khuyết Mộc còn khuyết cả Kim.

Do đó, tôi hướng dẫn bạn cách lấy hành Mộc, nhưng không hướng dẫn bạn cách tránh các hành khác, bởi có thể bạn cũng cần thêm một hành nào đó.

Bạn đọc muốn học cách đổi vận theo mệnh khuyết, trước hết phải hiểu tầm quan trọng của Mộc đối với mình.

Bạn phải biết rằng tóc, chân tay, xương đều thuộc Mộc. Nếu khuyết Mộc, bạn hãy nhuộm một lọn tóc thành màu lục, nó sẽ mang lại cho bạn một cảm giác rất thời đại.

Bạn cũng có thể đổi kính mắt thành màu lục, nó cũng sẽ mang lại cho bạn một cảm giác mới mẻ, bạn dành chút công sức cho việc ăn vận là đã có thể giúp mình hành vận.

Bạn phải lun ý chữ “tứ” (bốn) và chữ “Dần”, hai chữ này đều là Mộc Hoả.

Chữ “tuyển” (lựa chọn) vốn có rất nhiều Mộc, vì chữ “Tốn” trong đó là quẻ Mộc. Cùng là quẻ tốn thì có cùng một hành không? Có, vì cùng thuộc Mộc!

Bạn cũng hay quên một chữ, đó là chữ “Uyển”, Uyển tức là Mão, chữ này có rất nhiều Mộc.

Một chữ khác rất nhiều Mộc là chữ “Dật” (nhàn hạ), vì trong chữ này có chữ “Thổ” (thỏ). Nguời khuyết Mộc mà kỵ Kim thuờng gặp một cạm bẫy, đó là trong nhà dán rất nhiều chữ “Cát”, Cát tức là “Kê”, đại cát tức là đại kê. Những nguời sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 8 tháng 11 không nên dán chữ “Đại Cát” trong nhà, chữ này thù địch với bạn, nguyên nhân khiến bạn hành vận suy rất có khả năng là đầu giuờng dán chữ Đại Cát. Trong các loại thực vật thì cây đại cát (quýt), điếu chung (Hoa chuông) là những loài cây thuộc Kim.

SỰ TƯƠNG SINH, TƯƠNG KHẮC CỦA NGŨ HÀNH

Sự đối ứng giữa ngũ hành và trời

TRỜI Ngũ hành Mộc Hoả Thổ Kim Thủy

Phuơng vị Đông Nam Trung Tây Bắc

Mùa Xuân Hạ Thịnh Hạ Thu Đông

Khí hậu Gió Nóng Ẩm Khô Rét

Tinh tú Tuế Huỳnh Hoặc Trấn Thái Duơng Thần

Số sinh thành 8 7 5 9 6

Sự đối ứng giữa ngũ hành và đất ĐẤT Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Chủng loại Thảo mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Loài vật Gà Dê Bò Ngựa Heo Ngũ cốc Mạch Nhiệt Tắc Đạo Đậu Âm Giác Vi Cung Thuơng Vu Sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen

Vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn Mùi Khai Khét Thơm Tanh Thối

Sự đối ứng giữa ngũ hành và người

NGƯỜI Tạng Can Tâm Tì Phế Thận

Khiếu Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai

Thân thể Gân Mạch Thịt Da lông Xương

Tiếng Thở Cười Hát Khóc Rên

Tâm trạng Giận Mừng Suy nghĩ Lo âu Sợ hãi

Biến động Nắm Quấy La Ho Ngủ

Vị trí Nắm Quấy La Ho Ngủ

Vị trí bị bệnh Cổ gáy Ngục Thơm Tanh Thối

VƯỢNG, TƯỚNG, HƯU, TÙ, TỬ CỦA NGŨ HÀNH

Ngũ hành chu du khắp bốn mùa, bốn mùa rét, ấm, khô, ẩm khác nhau, ngũ hành cũng chịu ảnh hưởng, sinh ra biến đổi vượng suy lên xuống, trạng thái biến đổi này được gọi là vượng, tướng, hưu, tù, tử. Ở đây lấy Mộc làm thí dụ để thuyết minh.

Trạng thái của ngũ hành trong bốn mùa Xuân Mộc vượng Hoả tướng Thủy hưu Kim tù Thổ tử Hạ Hoả vượng Thổ tướng Mộc hưu Thủy tù Kim tử Thu Kim vượng Thủy tướng Thổ hưu Hoả tù Mộc tử Đông Thủy vượng Mộc tướng Kim hưu Thổ tù Hoả tử Bốn mùa Thổ vượng Kim tướng Hoả hưu Mộc tù Thủy tử

2. PHƯƠNG PHÁP BỐ CỤC ĐƠN GIẢN

Ở trên đã đề cập một vấn đề, đó là thí dụ bạn khuyết Mộc thì nên đặt rất nhiều đồ vật có màu lục trong nhà, nhưng chồng và con bạn đều kỵ Mộc thì những đồ vật đó có gây bất lợi cho họ không?

Nếu hai con trai của bạn đều khuyết Mộc, bạn cho chúng ở cùng một phòng, sau đó bố trí cả căn phòng thành màu lục, trước cửa sổ đặt cây cảnh, đó là bố cục tốt nhất.

Nếu bạn muốn đặt ở chỗ dùng chung, chẳng hạn đại sảnh hoặc phòng vệ sinh, thì cách làm là dùng các phương vị khác nhau của Cửu cung để đại diện cho các thành viên khác nhau trong gia đình. Thí dụ người mẹ khuyết Mộc thì phải đặt chậu hoa cỏ ở phía Tây Nam. Đặt ở phương vị này sẽ không ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình. Phần Thời không hoàng kim đoạn, cũng đã hướng dẫn cách căn cứ việc ngôi nhà thuộc loại nhà nào để tìm ra phương vị có Mộc trong mỗi ngôi nhà, phương vị này có thể ở phía tây, nhưng có rất nhiều Mộc.

Sau khi bạn tìm được phương vị này thì không cần phải trang trí nhà cửa ngay, bạn chỉ cần đặt ở đó một chậu hoa thì có thể có hành Mộc trợ vượng.

Nếu hoa mà bạn trồng ở phương vị đó đều chết, bạn có thể treo một cây tiêu gỗ ở đó. Ngoài treo tiêu, bạn còn có thể treo mõ ở vị trí đó, sau đó thường xuyên gõ mõ.

Bồ Tát ở phương đông là Dược Sư Phật. Người khuyết Mộc phần lớn đều thờ sai Bồ Tát, lý do là các gia đình thường thờ Quan Âm Bồ Tát, đây là một sai lầm của người khuyết Mộc.

Quan Âm là Bồ Tát ở phương tây, lệ thuộc vào Phật A Di Đà, do đó Quan Âm Bồ Tát đại diện cho phương tây, Ngũ hành thuộc Kim.

Do không phải ai cũng cần Kim, nên người khuyết Mộc thường đặt thêm chậu trúc phú quý ở bên cạnh Quan Âm mà không rõ lý do, lý do là Kim của Quan Âm rất mạnh nên cần phải đặt thêm vận Mộc để cân bằng.

Đối với người khuyết Mộc, nên đặt tượng Dược Sư Phật trong nhà. Người khuyết Mộc nếu muốn thờ Quan Âm thì không dùng tượng Quan Âm bằng sứ trắng, vì kiểu tượng này có rất nhiều Kim.

3. TRI THỨC CƠ BẢN VỀ BÁT TỰ VÀ TỨ TRỤ

Sau đây là cách tìm Bát tự và Đại vận, vận trình hàng năm cũng như tìm cung mệnh của mình.

Trước hết, bạn phải học cách xếp Bát tự, phải ôn lại mười Thiên can.

Theo lý thuyết:

Nam giới thuộc dương tính, gọi là mệnh Càn, tức là “chính” (dương).

Nữ giới thuộc âm tính, gọi là mệnh Khôn, tức là “phụ” (âm).

Nam giới thuộc dương, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (dương) (dương) = (dương), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy xuôi.

Nam giới thuộc dương, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (âm) (dương) = (âm), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy ngược.

Nữ giới thuộc âm, nếu can ngày của năm sinh là dương tính thì (âm) (dương) = (âm), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy ngược.

Nữ giới thuộc âm, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (âm) (âm) = (dương), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy xuôi.

Mỗi người đều có giờ, ngày, tháng, năm sinh. Chúng ta hãy chia thành tám ô như hình dưới.

Năm Tháng Nhật nguyên Giờ (+) (+) = +

(+) (-) = – (-) (-) = +

(-) (+) = –

Thí dụ một người sinh vào giờ Hợi ngày 4 tháng 10 năm 1961 dương lịch. Từ lịch vạn niên, được Thiên can và Địa chi của ngày 4 tháng 10 năm 1961 là “Canh Ngọ”. “Canh Ngọ” này gọi là Nhật nguyên.

Thiên can Địa chi của tháng được xác định theo tiết khí. Căn cứ vào Nguyệt kiện của 24 tiết khí, sẽ tìm được ngày 8 tháng 9 đến ngày 8 tháng 10 dương lịch là tháng Dậu, tra lịch vạn niên Túc Diệu biết được Thiên can Địa chi của tháng Dậu là “Đinh Dậu”.

Khi tra lịch vạn niên, có thể thấy ngày 8 tháng 9 là Bạch lộ, ngày đó là 5 giờ 27 phút giờ Mão ngày 29 âm lịch.

Từ lịch vạn niên, tìm được năm 1961 là năm Tân Sửu, đến đây thì Thiên can Địa chi của ngày, tháng, năm đều đã tìm được.

Muốn tìm Thiên can của giờ Hợi, cũng chỉ cần tra lịch vạn niên. Trong lịch vạn niên, có thể tìm được Thiên can của giờ Hợi. Do Nhật nguyên của ngày sinh là Canh Kim, nên Thiên can Địa chi của giờ Hợi là Đinh Hợi, do đó Bát tự của người này như sau.

Theo nghiên cứu Bát tự của tôi, về phương diện giờ, không cần phải chia thành “giờ Tý ngày” hay “giờ Tý đêm”, tóm lại cứ bước qua 11 giờ đêm là được tính vào giờ Tý của ngày hôm sau, cách tính này là chuẩn xác nhất, không cần chia giờ Tý thành ngày và đêm.

Do môi trường xã hội không ngừng thay đổi, nên lý thuyết được truyền lại từ xưa chưa hẳn đã hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện nay, bạn cần lược bỏ những lý thuyết không hợp thời, giữ lại những thứ hữu dụng.

4. ĐẠI VẬN CỦA BÁT TỰ

Bạn phải xếp Đại vận cho Bát tự nêu trên, mỗi mười năm là một Đại vận, chúng ta xếp ra Thiên can Địa chi của tám Đại vận, tức đại diện cho 80 tuổi thọ của con người.

Xếp tám Đại vận là thuận theo yêu cầu của người bình thường. Nếu xếp quá ít thì người ta sẽ cho rằng tuổi thọ của mình rất ngắn, do đó tốt nhất bạn hãy xếp ít nhất là tám Đại vận.

Bát tự trên đây là của nam giới thuộc Càn, tức là dương tính cho nên là “chính” (dương). Thiên can của năm trên là “Tân”, thuộc âm tính, tức là “Phụ” (âm), do (dương) (âm) = (âm), phương pháp sắp xếp là suy ngược.

Suy ngược có nghĩa là đếm ngược từ ngày 4 tháng 10 đến tiết lệnh trước đó, coi mỗi ba ngày là một năm, từ đó tính xem Bát tự này khởi vận từ tuổi nào.

Nếu Bát tự trên là nữ giới thì thuộc Khôn, tức là âm tính, là “Phụ” (âm). Thiên can là “Tân”, thuộc âm, tức là “phụ” (âm), nên (âm) (âm) = (dương), phương pháp sắp xếp là suy xuôi.

Suy xuôi nghĩa là đếm xuôi từ ngày 4 tháng 10 đến tiết lệnh sau đó, coi mỗi ba ngày là một năm, từ đó tính xem Bát tự này khởi vận từ tuổi nào.

Bây giờ bạn hãy dùng phương pháp suy ngược để xếp Đại vận cho Bát tự trên.

Theo lịch vạn niên, từ ngày 4 tháng 10 đếm ngược đến tiết lệnh trước đó là ngày Bạch lộ tức ngày 8 tháng 9, từ ngày 8 tháng 9 đến ngày 4 tháng 10 là 26 ngày, mỗi ba ngày là một năm, thừa ra một ngày thì không tính, thừa ra 2 ngày thì tính là một năm. Do đó 26 ngày tính là chín năm, tức Bát tự này khởi vận tức năm chín tuổi.

(Nếu dùng phương pháp tính xuôi thì từ ngày 4 tháng 10 đếm đến tiết lệnh sau đó là Bạch lộ ngày 8 tháng 10, từ ngày 4 tháng 10 đến ngày 8 tháng 10 là bốn ngày, mỗi ba ngày là một năm, thừa ra một ngày thì không tính, thừa ra hai ngày thì tình là một năm. Vậy bốn ngày tính là một năm, tức Bát tự của người phụ nữ này khởi vận từ năm một tuổi).

Nếu Bát tự tính bằng cách suy ngược, thì Thiên can Địa chi của mỗi Đại vận sẽ được tính ra bằng cách suy ngược theo Thiên can Địa chị của tháng sinh, tức tháng sinh là Đinh Dậu, thì Thiên can Địa chi của tháng trước đó là Bính Thân, tháng trước nữa là Ât Mùi, từ đó suy ra Đại vận của Bát tự).

(Nếu Bát tự tính bằng cách suy thuận, thì Thiên can Địa chi của mỗi Đại vận sẽ được tính ra bằng cách suy xuôi theo Thiên can Địa chi của tháng sinh. Tức là tháng sinh là Quý Tỵ thì Thiên can Địa chi của tháng tiếp theo là Giáp Ngọ, nên Đại vận thứ nhất là Giáp Ngọ, Đại vận tiếp theo là Ât Mùi, cứ thế tiếp tục).

Bạn cần lưu ý là tính bát tự phải tính theo tuổi thực.

Tuổi mụ tức là tính cả thời gian còn nằm trong bụng mẹ. Ngày thụ thai chúng ta gọi là Thai nguyên. Do Bát tự có sau khi sinh, nên Bát tự không tính cả tuổi mụ.

Vậy xem cái gì thì tính cả tuổi mụ? Diện tướng (xem tướng mặt) tính cả tuổi mụ, bởi tướng mạo của bạn đã được hình thành từ trong bụng mẹ, do đó xem diện tướng phải tính cả tuổi mụ, xem tướng bàn tay cũng phải tính cả tuổi mụ, nhưng Bát tự thì chỉ tính tuổi thực.

42

9 19 29 39 49 59 69

Bính Thân Ất Mùi Giáp Ngọ Quý Tỵ Nhâm Thìn Tân Mão Canh Dần

Năm Tháng Nhật nguyên Giờ (+) (+) = + Can Can Can Can (+) (-) = – Chi Chi Chi Chi (-) (-) = +

(-) (+) = –

Dưới đây là tổng kết sáu điểm mấu chốt khi sắp xếp Đại vận của Bát tự:

  1. Biết âm dương của Thiên can.
  2. Biết Thiên can của ngày sinh, tức là Nhật nguyên.
  3. Biết nguyên lý toán học:

(dương) (dương) = (dương)

(dương((âm) = (âm)

(âm) (dương) = (âm)

(âm) (âm) = (dương)

  1. Định tháng theo tiết lệnh.
  2. Suy xuôi/suy ngược, cứ ba ngày coi là một năm.
  3. Bát tự tính theo tuổi thực.

5. CHÍN MẬT MÃ CỦA MỘC

mệnh mộc

Người đàn ông nêu trên sinh năm 1961, tính đến năm 2010 là 49 tuổi.

Có hành vận hay không có nghĩa là trong Bát tự này có hành Mộc hay không? Chúng ta cùng ôn lại chín mật mã của Mộc:

  1. Mão
  2. Dần
  3. Mùi
  4. Hợi
  5. Thìn
  6. Dần Hợi -> Hợp Mộc
  7. Hợi Mão Mùi -> Cục Tam Hợp Mộc
  8. Dần Mão Thìn -> Cục Tam Hội Mộc
  9. Đinh Nhâm -> Hợp Mộc

Trên đây là những chữ và tổ hợp thuộc Mộc.

Chữ “Mão” có nhiều Mộc nhất, thứ đến chữ “Dần” chứa Mộc Hoả Thổ, chữ “Mùi” chứa Mộc Hoả Thổ, nhưng Thổ nhiều hơn, chữ “Hợi” là Hoả Thổ, chữ “Thìn” chứa Thổ Mộc Hoả.

Chữ “Mão” toàn bộ là Mộc, trọng điểm của khuyết Mộc là nói đến chữ này, thắng bại của người khuyết Mộc cũng phụ thuộc vào chữ này. Các mật mã của Mộc khác do cũng chứa trong các hành khác nên thường xuyên biến tiết, biến tiết có nghĩa là khi những mật mã này gặp một hành khác, chúng sẽ bị ảnh hưởng và biến thành một hành khác.

Ngoài chữ Mão, mật mã thứ hai không dễ bị biến tiết là chữ “Dần”, vì chữ “Dần gặp “Hợi” sẽ hợp Mộc, nên nó không “bán đứng” Mộc. Dần tức là hổ và mèo, người khuyết Mộc nuôi mèo có thể lập tức hành vận, lý do là mèo không “bán đứng” Mộc, nó trung thành nhất với hành Mộc.

SỰ SINH, KHẮC, HỢP, XUNG CỦA THIÊN CAN Quan hệ sinh khắc của thiên can

Mười thiên can có thuộc tính ngũ hành tương ứng riêng, theo đó có thể suy ra quan hệ tương sinh tương khắc của chúng Thiên can tương hợp

Thiên can tương hợp mà hoá thành ngũ hành, thí dụ Giáp Kỵ hợp hoá thành Thổ, các trường hợp khác như hình vẽ

ĐỊA CHI TAM HỢP, lục hợp Địa chi tam hợp

Thân, Tý, Thìn tam hợp, hóa Âm Thủy. Hợi, Mão, Mùi tam hợp, hóa Dương Mộc Dần, Ngọ, Tuất tam hợp, hóa Âm Thủy. Tỵ, Dậu, Sửu tam hợp, hóa Dương Kim Như trong hình vẽ, ba địa chi ở ba đỉnh mỗi hình tam giác có quan hệ tương hợp, gọi là địa chi tam hợp.

Địa chi lục hợp

Tý, Sửu hợp, hóa Âm Thổ; Dần, Hợi hợp, hóa Dương Mộc.

Mão, Tuất hợp, hóa Âm Thủy; Thìn, Dậu hợp, hóa Dương Kim;

Tỵ Thân hợp, hóa Âm Thủy; Ngọ, Mùi hợp, hóa Dương Hoả, Âm Thổ.

Như trong hình vẽ, địa chi ở hai đầu mỗi đoạn thẳng tương hợp, tổng cộng có sáu quan hệ tương hợp nên gọi là địa chi lục hợp.

ĐỊA CHI TƯƠNG XUNG, TƯƠNG HẠI Địa chi tương xung

Tý, Ngọ, tương xung; Tỵ, Hợi tương xung (Thủy khắc Hoả);

Mão, Dậu tương xung, Dần, Thân tương xung (Kim khắc Mộc);

Thìn, Tuất tương xung; Sửu, Mùi tương xung (đồng loại xung nhau).

Như trong hình vẽ, địa chi ở hai đầu mỗi đoạn thẳng xung nhau, tổng cộng có 6 cặp địa chi tương xung Địa chi tương hại

Tý, Mùi hại nhau; Sửu, Ngọ hại nhau; Dần, Tỵ hại nhau;

Mão, Thìn hại nhau; Thân, Hợi hại nhau; Dậu, Tuất hại nhau.

Như trong hình vẽ, địa chi ở hai đầu mỗi đoạn thẳng hại nhau, tổng cộng có 6 cặp địa chi tương hại.

Điều này giải thích tại sao nhiều người thích nuôi mèo, nhưng một số người lại không thích, thực ra nguyên lý là có cần tiếp nhận hành Mộc hay không.

Ngoài ra, Hợi Mão Mùi gọi là cục Tam Hợp Mộc, Dần Mão Thìn được gọi là cục Tam Hội Mộc, Đinh gặp Nhâm cũng sẽ hợp thành Mộc, đây là chín mật mã lớn của Mộc. Chúng ta lại xem Bát tự ở trên, người đàn ông trong Bát tự đang hành vận Quý Thuỵ. Trong bát tự có hai chữ Đinh, do Đinh Nhâm hợp Thuỵ, nên trong năm 2010 có cơ hội nhận được rất nhiều Mộc.

Ngũ hành của cả Bát tự bị một vị trí khống chế, đó là tháng sinh. Tuy Đinh Nhâm có thể hợp hoá Mộc, nhưng vào mùa thu thì hợp mà không hoá, tức là có thể hợp nhưng lại không thể hoá, nên tràn đầy phẫn hận.

Do đó theo Bát tự này, khi hành vận, có thể đã là năm 60 tuổi, vì Đinh Nhâm năm 49 tuổi là hợp mà không hoá, mà chữ Thìn và chữ Dậu hội hợp thành Kim, do tháng sinh là vào mùa thu, Dậu Thìn có thể hội thành Kim nên cả Bát tự đều là Kim.

Trong đời sống thực tế, người đàn ông này ăn vận thuộc Kim. Ông ta đeo mắt kính vàng, tóc trên đỉnh đầu trắng, màu quần áo cũng thuộc Kim. Tuy mặc quần màu lục, nhưng điều này cho thấy Mộc chỉ đến thắt lưng, không thể cao hơn được nữa.

Vậy thì phải chăng người đàn ông này hành vận suy trong suốt mười năm?

Chúng ta phải tìm xem trong Đại vận mười năm này, năm nào đó có tương đối nhiều Mộc, sau khi sắp xếp được Đại vận cho Bát tự, phải sắp xếp Đại vận của từng năm.

6. ĐIỂM TỰA CỦA VẬN TRÌNH CẢ ĐỜI

ngũ hành mộc

Trong bát tự học, một Đại vận được tính là mười năm. Trong mười năm này, bạn sẽ hành vận năm nào?

Trong mười năm hành vận Thủy, một số năm có nhiều Mộc hơn, một số năm có ít Mộc hơn. Để tìm được vận Mộc của từng năm, phải tìm được vận hành từng năm trong cuộc đời.

Điều này không có nghĩa là Thiên can Địa chi của năm, bởi Thiên can Địa chi ảnh hưởng đến tất cả mọi người.

Bạn phải tìm ra vận trình mỗi năm ảnh hưởng đến chính bạn, tức là thuộc về bạn. Nếu bạn nhận thấy trước kia không thể hành vận, thì nguyên nhân rất lớn là vận năm bất lợi cho bạn.

Để tìm được vận năm của một người, phương pháp là suy xuôi hoặc suy ngược Thiên can của giờ, xem Đại vận trong Bát tự của người đó là suy xuôi hay suy ngược.

Thí dụ như Bát tự nêu trên, giờ sinh là giờ Hợi, Đinh Hợi suy ngược về trước là Bính Tuất, Bính Tuất chính là vận năm mà người đàn ông này hành lúc một tuổi. Có nghĩa là từ ngày 4 tháng 10 năm 1962 đến ngày 4 tháng 10 năm 1963 hành vận Bính Tuất, đây là vận Hoả Thổ, tức ngay từ khi sinh ra đã không hẳn có vận.

Bính Tuất suy ngược về trước là Ât Dậu, tức là hai tuổi hành vận Ât Dậu.

Cứ thế tiếp tục có thể tính được vận trình mỗi năm trong cuộc đời. Nhưng phải căn cứ vào vận năm, khi cần suy ngược thì suy ngược, khi cần suy xuôi thì suy xuôi.

Người đàn ông có Bát tự trên 49 tuổi, tra nạp âm 60 giáp trong lịch vạn niên là tìm thấy từ Bính Tuất suy ngược về trước 48 cái là Ât Tỵ (nếu suy xuôi thì là Kỷ Tỵ).

Thí dụ vận năm của năm đó vốn bất lợi đối với bạn, nhưng bạn lại phát hiện vận khí của năm đó không quá kém, lý do là bạn không tìm thấy vận mà mình hành mỗi năm.

Bạn tính được vận trình hàng năm sẽ có thể nắm được chính xác Bát tự của mình.

7. KIỂM TRA QUAN HỆ THÂN THÍCH ĐỂ BIẾT MỘC VƯỢNG

Nhật nguyên tức là Thiên can của ngày sinh, tra “lịch vạn niên” sẽ tìm được Nhật nguyên ngày sinh của mình.

Trong Thiên can, Giáp Ât thuộc Mộc, Bính Đinh thuộc Hoả, Mậu Kỷ thuộc Thổ, Canh Tân thuộc Kim, Nhâm Quý thuộc Thuỷ. Xung quanh chúng ta có rất nhiều nguời thuộc Mộc, nhung nguời bình thuờng không biết. Sau khi tìm đuợc Nhật nguyên của mình, chúng ta sẽ giải mã đuợc bí mật này.

Viết một bình luận