Mật Mã Vận Hỏa Của Bạn Bước Vào Thế Giới Hỏa Trong Cuộc Sống

1. NHẬN BIẾT MỘT SỐ ĐIỀU KỲ DIỆU

Bát tự quyết định nhu cầu về ngũ hành của con người. Bạn muốn hấp thu đầy đủ tri thức và lý luận ngũ hành thì tốt nhất là phải có cơ sở tri thức về Bát tự. Ngoài cuốn “Túc Diệu vạn niên lịch”, bạn nên đọc cuốn “Tứ trụ toán mệnh thuật”, có thể giúp bạn hiểu được nguyên lý và phương pháp khắc phục khuyết Hỏa. Qua đó, bạn có thể hiểu thêm các tác dụng liên quan của thiên can địa chi trong Bát tự.

Do cuốn sách này hướng dẫn người khuyết Hoả cách tự cải vận, nên không dành quá nhiều vào việc giải thích phương pháp phán đoán theo Bát tự. Bạn có thể xem thêm cuốn “Tứ trụ toán mệnh thuật” để hiểu rõ hơn và vận dụng các phương pháp cải vận.

Trong cuốn sách “Danh tự cải vận học” đã liệt kê chi tiết những tên gọi đại diện cho ngũ hành Kim Mộc Thuỵ Hoả Thổ. Những tên gọi trong sách đều được chọn kỹ càng, thí dụ chữ “Phúc” thuộc Thuỵ, chữ “Đình” trong từ “gia đình” cũng thuộc Thuỵ. Chữ “Uyển” (vườn) thuộc Mộc, chữ “Đông” trong từ phương đông cũng thuộc Mộc. Tất cả đều được giải thích rõ ràng, bởi vậy tôi cũng không giới thiệu ngũ hành của chữ trong cuốn sách này. Nếu bạn muốn tham khảo những từ vựng thuộc Hoả, hãy đọc cuốn “Danh tự cải vận học”, ở đây chỉ liệt kê một số chữ thuộc Hoả thường dùng.

việc trang điểm của ngườikhuyết hỏa

2. THÚC CỐC – HUYỀN CƠ CỦA VẬT

Thầy thuốc Đông y bắt mạch người khuyết Hoả thấy hư hàn hơn người bình thường rất nhiều. Sau đây xin giới thiệu một loại thức ăn mà mọi người khuyết Hoả đều nên ăn, đó là thịt dê. Dê thuộc Hoả Thổ, có thể trừ khử khí hàn thấp trong cơ thể người khuyết Hoả. Nhắc đến thịt dê nhiều người sợ cholesterol quá cao. Thực ra thịt heo mới có cholesterol cao. Hàm lượng cholesterol trong thịt dê thấp hơn thịt heo, còn thấp hơn thịt bò. Người khuyết Hoả nếu muốn ăn thịt bò thì có thể xốt thịt bò với cà chua, vì cà chua có rất nhiều Hoả. Thịt bò béo có hàm lượng cholesterol rất cao, nên ăn thịt bò phải chọn thịt bò gầy. Thông thường, những thức ăn ngon miệng lại ít giúp bạn hành vận.

Bởi vậy bạn không cần kiêng ăn thịt dê. Thường thì chúng ta không ăn quá nhiều một lần. Quan niệm quan trọng nhất trong quá trình cải vận bằng ẩm thực là nếu bữa này bạn ăn thịt dê thì chỉ đuợc ăn thịt dê thôi, không ăn kèm với các loại thịt khác nhu thịt bò, thịt heo. Nếu bạn phải ăn thịt dê để lấy vận, thì ngoài thịt dê, bạn chỉ đuợc ăn rau và ngũ cốc, nếu đồng thời ăn các loại thịt khác thì công hiệu sẽ phân tán.

Nữ giới muốn giúp chồng vuợng thì có thể ăn cua, nhung khi ăn phải ăn cả con, hơn nữa không đuợc ăn chung với các loại thịt khác, nếu không sẽ phá hoại công hiệu của cua. Ăn cua cùng với một bát cháo là đã đủ luợng cho một bữa ăn, không cần thêm các loại thức ăn khác. Hãy nhớ một nguời phải ăn hết nguyên con cua, kể cả thịt trong các càng. Cũng nhu nguời khuyết Hoả ăn thịt dê để tăng vận, bữa đó không đuợc thêm các loại thịt khác?

3. MÓN NGON TỪ THỊT DÊ

Nguời khuyết Hoả ăn thịt dê là phù hợp nhất.

Với các bộ phận trên mình con dê cũng có các cách ăn khác nhau:

Móng dê: Phần mắt cá trở xuống, nhiều gân ít thịt, nên hầm.

Chân sau dê: Thịt nhiều gân ít, thuờng ăn nuớng.

Chân truớc dê: Thịt bình thuờng, gân nhiều hơn chân truớc.

Thịt dê: Thuờng đuợc lóc từ đùi và mông dê, chế biến bình thuờng.

Sống lung dê: Thịt không thật nhiều, vị đậm, thuờng nuớng.

Suờn dê: Thịt khá mềm, thuờng nuớng.

Thịt suờn dê: Lóc từ suờn dê, thịt dày và mềm, có thể nấu hoặc nuớng.

Ức dê: Chỗ thịt ngon nhất trên mình con dê, hầm sẽ cho hiệu quả tốt nhất.

Đầu gối dê: Do bộ phận này vận động nhiều nên thịt hơi dai, thích hợp với nuớng.

Ngựa cũng thuộc Hoả, Chó cũng thuộc Hoả, thịt chó là thức ăn có rất nhiều Hoả. Nấu thịt dê và thịt heo phuơng pháp nấu thịt chó, gọi là giả cầy, món ăn này có rất nhiều Hoả, nguời khuyết Hoả nên ăn uống món ăn này.

4. HUYỀN CƠ TRONG CHẾ BIẾN THỨC ĂN

Nguời khuyết Hoả cần nhớ mỗi ngày uống nuớc táo đỏ. Chỉ cần duy trì trong khoảng 2 tuần là sắc mặt sẽ trở nên hồng hào, không cần đánh phấn bôi son, vì nuớc táo đỏ có tác dụng điều tiết nội tiết rất tốt.

Do Tâm thuộc Hoả nên “Mỹ Tâm” có rất nhiều Hoả, bởi Mỹ còn có nghĩa là dê. Trên bánh kem có quả dâu tây màu đỏ, loại bánh kem này có rất nhiều Hoả. Nếu vợ hay bạn gái bạn khuyết Hoả, sẽ thích loại bánh kem này. Nhung nếu cô ấy kỵ Hoả thì có thể sẽ ghét loại bánh ấy. Các chàng trai “ga-lăng” cần phải cẩn thận.

5. THỜI KHÔNG HOÀNG KIM ĐOẠN

“Thời không hoàng kim đoạn”, “thời” là thời gian, “không” chỉ không gian, không gian cũng có nghĩa là phong thuỵ.

Bạn cần biết cách tìm hành hỏa trong thời gian của Hoả, và cách tìm hành này trong phong thuỵ.

Trước hết nói về thời, tức thời gian.

Chúng ta đang sống trong thế vận hiện tại, vậy thế vận này rốt cuộc thuộc hành nào trong Kim, Mộc, Thuỵ, Hoả, Thổ? Trong thuật số thì tính toán như thế nào?

Lấy năm 2010 làm thí dụ, thời thế mùa xuân năm này không lợi cho Thổ, nhưng thế vận đang hành vận Mộc, Mộc sinh Hoả, người khuyết Hoả có vận trình khá tốt trong mùa xuân này, vì thế vận này có Hoả tính nhất định.

Thế nào là thời thế, thế vận? Tức là khi thế giới này đang hành vận Hoả, trên trái đất có nhiều sự kiện liên quan đến Ho ả như cháy nổ và tai nạn giao thông.

THUỘC TÍNH ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CỦA THIÊN CAN ĐỊA CHI Cổ nhân sáng lập hệ thống ký hiệu thiên can địa chi gán cho mỗi ký hiệu một hàm nghĩa nhất định, đồng thời gắn những hàm nghĩa này với các ký hiệu khác như âm dương ngũ hành, hình thành nên một hệ thống ký hiệu để nhận thức thế giới.

Thuộc tính âm dương ngũ hành của thiên can

Thiên can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỵ Canh Tân Nhâm Quý

Âm dương Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm

Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy

Thuộc tính âm dương ngũ hành của địa chi

Địa Chi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi

Âm Dương Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm Dương Âm

Ngũ Hành Thủy Thổ Mộc Thổ Hỏa Thổ Kim Thổ Thủy

Trạng thái ngũ hành trong bốn mùa

Xuân -> Hạ -> Thu -> Đông

Mộc vượng Hỏa vượng Kim vượng Thủy vượng

Rốt cuộc phán đoán thế vận này như thế nào? Trước hết bạn phải học lý luận cơ bản về Bát tự.

Người học cách đổi vận theo mệnh khuyết không cần phải cực kỳ tinh thông Bát tự. Bạn có thể nhập một Bát tự đơn giản để hiểu được nội dung. Dù không học sâu về Bát tự, bạn chỉ cần làm theo hướng dẫn trong sách là có thể có cơ hội đổi vận thành công.

Song song với các phương pháp lấy vận, lý luận đằng sau nó không tách khỏi thiên can và địa chi.

mệnh hỏa

6. HỌC VẬN NGŨ TÝ

Thiên can và địa chi là gì? Đây là phương pháp dùng để tính toán không gian và thời gian, từ 10 thiên can và 12 địa chi sinh ra vận Ngũ Tý.

Vận Ngũ Tý là gì? Nghĩa là một thiên can ghép với một địa chi, thí dụ Giáp ghép với Tý, Ât ghép với Sửu, Bính ghép với Dần, cứ thế tiếp tục. Sau khi hoàn thành Quý ghép với Dậu, thì lấy Giáp của thiên can ghép với Tuất của địa chi, Ât ghép với Hợi, sau đó Bính ghép với Tý. Cứ thế hoàn thành việc ghép mọi thiên can với địa chi, khi trở lại Giáp ghép với Tý thì đã có 60 tổ hợp, 60 tổ hợp này gọi chung là một Giáp tử.

Sách “Túc Diệu vạn niên lịch” có in nạp âm của 60 Giáp tử, bạn có thể tra sự phối hợp của 60 Giáp tử.

Ngũ Tý là tên gọi chung của tổ hợp từ Giáp Tý đến Bính Tý, sau đó đến Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý.

Từ Giáp Tý đến Bính Tý là 12 năm, gọi là một vận Thuỵ, vì vận Giáp Tý thuộc Thuỵ, lý do là Hà Đồ và Lạc Thư cho số 1 là Thuỵ nên gán cho Giáp Tý là Thuỵ.

12 năm Bính Tý là Hoả.

Bắt đầu từ năm Mậu Tý 2008, bao gồm năm Canh Dần 2010, đến năm Ât Hợi cuối cùng, vận Mậu Tý của 12 năm này thuộc Hoả.

Tiếp đến 12 năm Canh Tý thuộc vận Kim.

Thuỵ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Giáp Tý Ât Sửu Bính Dần Đinh Mão Mậu Thìn Kỵ Tỵ Canh Ngọ Tân Mùi Nhâm Thân

Quý Dậu Giáp Tuất Ât Hợi

Hoả 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24

Bính Tý Đinh Sửu Mậu Dần Kỵ Mão Canh Thìn Tân Tỵ Nhâm Ngọ Quý Mùi Giáp Thân

Ât Dậu Bính Tuất Đinh Hợi

Mộc 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36

Mậu Tý Kỵ Sửu Canh Dần Tân Mão Nhâm Thìn Quý Tỵ Giáp Ngọ Ât Mùi Bính Thân

Đinh Dậu Mậu Tuất Kỵ Hợi

Kim 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48

Canh Tý Tân Sửu Nhâm Dần Quý Mão Giáp Thìn Ât Tỵ Bính Ngọ Đinh Mùi Mậu Thân Kỵ Dậu Canh Tuất Tân Hợi

Thổ 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60

Nhâm Tý Quý Sửu Giáp Dần Ất Mão Bính Thìn Đinh Tỵ Mậu Ngọ Kỵ Mùi Canh Thân Tân Dậu Nhâm Tuất Quý Hợi

Trên đây gọi là vận Ngũ Tý. Một vận Ngũ Tý hoàn tất sẽ bắt đầu lại từ đầu, tức là hoàn thành 60 năm của một Giáp tử.

Bắt đầu từ năm 1996, thế giới buớc vào vận Hoả 12 năm, tức vận Bính Tý trong vận Ngũ Tý.

Điều này cũng có nghĩa nguời khuyết Hoả hành vận từ khoảng năm 1996 đến năm 2008, đó là thế vận, tức là trợ lực bên cạnh bạn, cho thấy cơ duyên và cơ hội mang lại cho bạn sẽ tuơng đối nhiều.

Vận Hoả 12 năm này cũng cho thấy trên thế giới có khá nhiều cuộc chiến tranh, nhiều vụ cháy rừng và tai nạn giao thông, ngoài ra các vụ nổ, hơi độc cũng đều xảy ra trong 12 năm này.

Năm 2010 nằm ở giai đoạn đoạn đầu của vận Mộc 12 năm, tức là sau năm 2008, trợ lực bên cạnh nguời khuyết Hoả bắt đầu suy yếu. Do đó thời vận đuợc dùng để quyết định thời thế bên cạnh bạn, nghĩa là môi truờng xung quanh bạn có thể trợ giúp bạn hay không.

Nói cách khác, nguời khuyết Hoả đã từ biệt thế vận tốt, sự hỗ trợ của trợ lực không còn nhiều nữa. Trong thất vận, nếu có chiến tranh sẽ tăng thêm rất nhiều thế vận của Hoả. Bởi vậy về nguyên tắc nguời khuyết Ho ả là nguời chủ chiên.

7. MẬT MÃ TÌM HỎA CỦA VẬN NĂM

Loại thứ hai là tìm ngũ hành theo vận năm.

Lấy thí dụ năm 2010, chúng ta muốn biết năm 2010 có hành vận Hoả hay không, bạn biết rằng năm 2010 là năm Canh Dần.

Chữ Canh trong năm Canh Dần là thiên can, chữ Dần là địa chi. Thiên can trông coi nửa đầu năm, địa chi trông coi nửa cuối năm. Canh là Kim, Dần là Mộc, thiên can của nửa đầu trông coi nửa đầu năm, địa chi của nửa cuối trông coi nửa cuối năm.

Nửa đầu năm là mùa xuân hạ, nửa cuối năm là mùa thu đông.

Xuân hạ là các mùa có Hoả tính nặng, thiên can thuộc Kim không thể phát huy công hiệu ở nửa đầu năm. Cũng vậy, thu đông là mùa lạnh, địa chi tạo nên hành Mộc cũng không thể phát huy đuợc tác dụng của Hoả.

Đến khi nào mới thực sự mùa xuân có thật nhiều Mộc Hoả,mùa thu đông có thật nhiều Kim Thuỵ?

Đó chính là năm Ât Mùi 2015. Thiên can là Ât Mộc, Mộc có thể sinh Hoả. Địa chi là Mùi Thổ, trong Mùi Thổ có Thổ cũng có Thuỵ. Do đó muốn mùa xuân hạ thu đông đều phát huy được tác dụng thật sự thì đợi đến năm 2015.

8. NGUYỆT LỆNH LÀ PHỦ CỦA ĐỀ CƯƠNG

Nguyên lý của Bát tự là căn cứ vào năm, tháng, ngày, giờ ra đời của con người để viết ra thiên can địa chi tương ứng.

Thí dụ ngày 1 tháng 3 năm 2003 là ngày Quý Dậu tháng Giáp Dần, cho nên tứ trụ của Bát tự sẽ viết như sau: bạn xem Nhật nguyên của ngày 1 tháng 3 là Quý Dậu, tức là Kim Thuỵ, nhưng không thể biết thời tiết ngày hôm đó là lạnh hay nóng, nên không thể biết được ngũ hành khi đó. Chỉ có thiên can địa chi của tháng mới có thể cho biết rõ thời tiết khi đó như thế nào.

Trong Bát tự, năm không có ngũ hành. Tuy bạn thấy Quý Mùi, nhưng không thể từ đó biết được ngũ hành, vì nó đại diện cho bốn mùa trong cả năm. Ngũ hành chỉ có thể biết được trong mùa, cái mà môn đoán mệnh nói là ngũ hành của mùa. Do Bát tự rất coi trọng tháng, nên gọi can chi của tháng là Đề cương, vì tháng kiểm soát nhiệt độ của cả bát tự ngũ hành.

Sự khống chế của Thiên can địa chi của năm đối với bát tự là rất ít, nó chủ yếu kiểm soát tính cách và nhân tố bối cảnh. Trong sách vận trình hàng năm căn cứ vào địa chi để chia con người thành 12 loại, nhưng tính toán theo bát tự thì có thể chia con người thành 510 nghìn loại, bởi vậy tính toán bằng bát tự đương nhiên có tính chuẩn xác cao hơn.

9. GIẢI THÍCH VỀ MA CỦA TÂM

Bộ phận nào trong bát tự đại diện cho chính bạn? Chính là ngày mà bạn ra đời. Nhật can của ngày ra đời là bạn, chúng ta gọi là Nhật nguyên. Nhật nguyên kiểm soát âm dương ngũ hành của ngày sinh.

Sách “Trích thiên tủy” viết: “Tiết khí kiểm soát Nhật nguyên, là tài của quỵ, ma của tâm”.

Mỗi người sinh ra trong tháng đó thì tháng sinh chính là tài của quỵ, ma của tâm của mỗi người.

Thí dụ bạn sinh tháng Dần, Nhật nguyên của bạn là Nhâm Thuỵ, chữ Dần là Đề cương của bạn. Tiết khí, tức tháng Giêng âm lịch là tài của quỵ, ma của tâm. Có nghĩa là Đề cương đó nhất định không phải là nhân tố thành công của bạn, tức là nó nhất định không phải là Dụng thần của bạn. Dụng thần là chỉ mọi linh dược có thể chữa trị cho bạn.

Nhưng con người bị Đề cương đó khống chế. Giả sử đây là một phụ nữ, Thuỵ sinh Mộc, Mộc là con của chị. Điều này có nghĩa con cái là ma của chị.

Giả sử Nhật nguyên là Kim, là một người đàn ông, Mộc đại diện cho vợ, người vợ này là ma của chị.

Ý nghĩa của ma là không chịu sự khống chế của Nhật nguyên. Khi Nhật nguyên mạnh thì có thể khống chế được ma, nhưng khi Nhật nguyên yếu thì lại bị ma không chế.

Những người khuyết Hoả phần lớn sinh vào tháng Hợi, Tý, Sửu. Điều này có nghĩa Thuỵ là ma tính. Bởi vậy bạn thường xuyên có những hành vi ma tính của Thuỵ, thí dụ uống trộm bia rượu, ăn thức ăn sống lạnh, ham bơi lội… đó đều là ma của người khuyết Hoả. Sách “Trích thiên tủy” viết: “Hàng phục được nó thì thành nghề, đánh bại được nó thì thành công”.

Có nghĩa là chỉ cần khống chế được ma này sẽ có thể thành công.

Thí dụ một người rất thích uống sữa đậu nành, nhưng lại kỵ Thuỵ. Nhưng thật kỳ lạ, anh lại trở thành vua sữa đậu nành, lý do là “hàng phục được nó thì thành nghề, đánh bại được nó thì thành công” như trên đã nói.

Nếu người đó là Hoả cực thịnh thì sẽ quay lại không chế Thuỵ, khiến cho Thuỵ trở thành thành tựu.

Như vậy người khuyết Hoả không nhất thiết phải làm nghề thuộc Hoả mới thành công. Làm nghề thuộc Thuỵ cũng có cơ hội thành công, nhưng đương nhiên phải có Hoả thật mạnh hỗ trợ.

Nói cách khác, chỉ cần tự làm cho mình lớn mạnh, bạn sẽ có thể khống chế được kẻ địch. Đó chính là lý luận của bát tự: Người như thế nào thì được coi là thành công? Đó là có thể làm cho ma quỵ trở thành nô bộc, tức là biến kẻ địch thành nô bộc. Nhưng nếu bạn không đủ Hoả thì cứ nên làm nghề thuộc Hoả, đừng dẫn ma vào nhà.

Có thể chia thành hai loại người.

Loại thứ nhất là người khuyết Hoả làm nghề thuộc Hoả và rất thành công.

Loại thứ hai là người không khuyết Hoả, nhưng vẫn có thể làm nghề thuộc Hoả và cũng rất thành công.

Lý do là người đó tuy bát tự của bản thân khuyết Hoả, nhưng có thể do ảnh hưởng của đại vận và ngũ hành của người thân, bạn bè xung quanh nên nhận được trợ lực có rất nhiều Hoả, do đó dù làm nghề ma tính (đối với bát tự của người này), vẫn có thể thành công.

Nhưng nếu so sánh, làm nghề nào sẽ thoải mái hơn? Đương nhiên là làm nghề thuộc Hoả. Vì khống chế bạn bè dễ hơn không chế ma quỵ, nhưng khống chế được cả ma quỵ thì sẽ có thành tựu nổi bật.

Một người bản thân kỵ Mộc, Dụng thần là Hoả Thổ, nhưng do thường xuyên tiếp xúc với thuỵ tinh nên bắt đầu kinh doanh thuỵ tinh. Do thuỵ tinh cũng là Dụng thần nên công việc của anh rất thành công.

Tuy kỵ Mộc nhưng sách anh viết ra bán rất chạy, anh rất nhiều độc giả. Chỗ khác biệt là, anh buôn thuỵ tinh rất thuận lợi, chưa từng có trắc trở. Nhưng viết sách lại cảm thấy rất vất vả, hơn nữa tuy có doanh số, nhưng chưa từng mang lại hiệu quả thực sự về tiền bạc. Nghề mang lại của cải cho anh luôn là nghề thuỵ tinh.

Bởi vậy làm nghề của Dụng thần luôn thoải mái hơn và dễ thành công hơn, làm nghề ma tính tức là nghề kỵ húy, muốn thành công thì phải vất vả hơn, nhưng không hẳn không làm được.

`10. BẢN NĂNG BIỂN ĐỔI CỦA TAM HÙNG KHUYẾT HOẢ

phong thủy người mệnh kim

Sau khi giải thích ảnh hưởng của thế vận, niên vận và tháng đối với bát tự, xin giải thích về ảnh hưởng của canh giờ đối với ngũ hành.

Ngoài tháng, một nhân tố ảnh hưởng đến ngũ hành nữa là giờ. Thí dụ ra đời vào buổi trưa, Hoả tính đương nhiên mạnh, sinh vào giờ Tý buổi tối, Thuỵ tính tự nhiên nhiều. Bởi vậy canh giờ và tháng là những nhân tố quan trọng khống chế toàn bộ bát tự.

Trong mỗi một ngày, giờ Ngọ, giờ Tuất và giờ Dần đều có rất nhiều Hoả, trong đó giờ Ngọ có nhiều Hoả nhất.

Ở trên, bạn đã nhận biết năm hạt giống của Hoả. Trong năm hạt giống này, có hai hạt sẽ luôn thay đổi. Đó là Tỵ và Mùi.

Tỵ tức là rắn. Người cầm tinh rắn rất nhanh nhạy, nhưng cũng hay thay đổi.

Nếu cho Tỵ một môi trường Hoả thì sẽ khôi phục bản tính có rất nhiều Hoả. Nhưng nếu đặt vào môi trường của một hành khác thì sẽ biến đổi.

Bởi vì về bát tự, Tỵ gặp Sửu và Dậu sẽ từ Hoả biến thành Kim. Nếu thấy bát tự đại vận của bạn bước vào vận Tỵ thì bạn đừng vội mừng cho rằng đã bước vào vận Hoả, vì còn phải xem trong bát tự có Sửu và Dậu hay không, nếu có thì không còn là Hoả nữa.

Bởi vậy chữ Tỵ có thể là Hoả, cũng có thể không phải là Hoả. Trong trường hợp nào thì có rất nhiều Hoả? Đó là phải gặp được Ngọ và Mùi, như thế mới yên tâm biến thành Hoả, nếu không sẽ biến thành Kim, đó là thứ nhất.

Thứ hai là nếu Tỵ gặp Thân thì sẽ biến thành Thuỵ. Có nghĩa là trong cùng một chữ, nó có thể biến thành ba hành Hoả, Kim, Thuỵ. Vì thế người cầm tinh rắn có khả năng thích nghi rất tốt, nhưng khả năng thay đổi cũng lớn, có thể thích nghi với các hành khác nhau và tồn tại trong đó.

Năm 2001 là năm Tân Tỵ, tức là năm con rắn. Trong năm này, người khuyết Hoả chưa chắc đã có vận tốt, lý do là nếu trong bát tự xuất hiện ba mật mã Sửu, Dậu và Thân thì sẽ khiến Tỵ biến đổi. Ba mật mã này cấu kết với chữ Tỵ đi vào ngũ hành của mình.

Một chữ nữa cũng hay biến đổi là chữ Mùi, nhưng ảnh hưởng không bằng Tỵ.

Mùi là Hoả Thổ, cũng là kho của Mộc. Khi gặp Mão và Hợi sẽ biến thành Mộc. Với Hoả thì Mộc không có hại gì lớn, vì về cơ bản Mộc sinh Hoả, Mộc không gây cản trở lớn cho người khuyết Hoả, không biến thành hành hoàn toàn trái ngược và tương khắc như chữ Tỵ biến thành Kim Thuỵ.

Chữ Mùi là Mộc và Hoả, khi gặp Hợi sẽ hoàn toàn biến thành Mộc, không còn có Hoả nữa.

Đối với người khuyết Hoả, trung thành nhất chỉ có chữ Ngọ, từ đầu đến cuối không có bất kỳ thay đổi nào, luôn giữ được Hoả tính, do đó là một trong tứ chính.

Tứ chính là Tý, Ngọ, Mão, Dần. Đây là bốn hành trung thành nhất. Tý có nhiều Thuỵ nhất, Ngọ có nhiều Hoả nhất, Mão có nhiều Mộc nhất, Dậu có nhiều Kim nhất.

Do đó chữ Ngọ là chữ có nhiều Hoả nhất, là Hoả trong Hoả. Giờ Ngọ hàng ngày chính là thời gian thành bại được mất của người khuyết Hoả. Đáng tiếc phần lớn chúng ta không tận dụng khoảng thời gian này để phấn đấu, mà dùng nó để ăn ngủ. Bởi vậy người khuyết Hoả tốt nhất nên ăn sau 1 giờ trưa, vì từ 12 giờ đến 1 giờ sẽ có nhiều thông tin xuất hiện, bạn tận dụng khoảng thời gian này để làm việc sẽ vô cùng thuận lợi.

Trên đây là “thời” trong “Thời không hoàng kim đoạn”.

11. PHÉP CỬU CUNG PHI TINH

Bây giờ là về không gian.

Tứ chính là bốn phương vị Tý, Ngọ, Mão, Dần. Thuộc tính của bốn phương vị này là ngũ hành trung thành nhất. Tý có nhiều Thuỵ nhất, Ngọ có nhiều Hoả nhất, Mão có nhiều Mộc nhất, Dậu có nhiều Kim nhất.

Khi nói đến không gian, bạn cần biết về phép Cửu tinh Phi phục, còn gọi là thước đo không gian chín chín tám mốt bước.

Đây là một lý thuyết rất quan trọng trong lý luận phong thuỵ học. Không hiểu lý thuyết này thì sẽ không tìm được bí mật của không gian. Bí mật của không gian nằm ở phép đo không gian chín chín tám mốt bước, tức là có thể tìm được trong thước đo bầu trời.

Bạn đọc cần phải ghi nhớ phương pháp phi phục của phi tinh (sao bay) trong thước đo không gian tám mốt bước. Thứ tự bay như hình dưới, tức bắt đầu từ bước đầu tiên ở chính giữa, bay đến bước thứ hai ở phía dưới phải, sau đó bay đến bước thứ ba, cứ thế tuần tự bay đến bước thứ chín ở phía trên trái. Bạn cũng có thể giơ bàn tay mình lên, khi ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út khép vào nhau sẽ xuất hiện chín ô. Sau khi ghi nhớ thứ tự bay thì không cần dùng bút ghi lại, có thể ấn ngón cái lên ô giữa của ngón giữa, sau đó bay từ ô thứ nhất ở chính giữa đến ô thứ chín theo thứ tự trong hình.

Thứ tự cửu tinh phi phục

Nếu ô ở chính giữa là 5, thì theo thứ tự của phi tinh ở hình trên, sẽ biến thành hình sau:

12. ĐỔI VẬN BẰNG CÁCH VÀO BẾP

Bạn có hai phương pháp quan trọng.

Thứ nhất là vào bếp.

Người khuyết Hoả phải thường xuyên vào bếp, đây là phương pháp tự cứu mình của người khuyết Hoả. Rất đơn giản, chỉ cần đặt nồi cơm điện ở phương vị đại diện cho bạn. Thí dụ bạn là bà chủ gia đình, là Khôn, tức là phía tây nam đại diện cho bà chủ gia đình. Hãy tìm phía tây nam trong bếp xem nó nằm ở vị trí nào, sau đó đặt nồi cơm điện ở đó, bạn sẽ bắt đầu hành vận.

Nếu bạn là cha thì phía tây bắc trong nhà (vị trí Càn), do đó bạn hãy tìm phía tây bắc trong bếp rồi đặt nồi cơm điện ở đấy.

Nhưng bạn phải thật sự sử dụng nồi cơm điện. Nếu bạn không nấu cơm hàng ngày thì nồi cơm điện không thể sinh ra tác dụng. Còn sức nóng mà lò vi ba tỏa ra là rất ít, Hoả tính không cao.

Nếu bạn không nấu cơm bằng nồi cơm điện thì có thể gắn một bóng đèn đỏ ở phương vị đại diện cho bạn, sau đó bật đèn suốt 24 giờ là có thể nhận được rất nhiều Hoả.

Trên đây trình bày cách xếp đặt nhà bếp. Người khuyết Hoả nên dành tâm tư cho nhà bếp, còn người khuyết Thuỵ thì phải chú ý nhà vệ sinh. Trên đây là cách bài trí nhà bếp để vận Hoả được tăng cường.

Ngoài nhà bếp, bạn còn phải bố trí các đồ dùng thuộc Hoả ở phương vị nào trong nhà?

Đó chính là phương pháp đổi vận thứ hai, trước hết bạn phải làm rõ ngôi nhà “tọa” ở hướng nào, mặt “hướng” về phía nào?

Làm thế nào để xác định được toạ hướng của ngôi nhà? Ngày xưa rất dễ xác định được phương hướng này, vì khi ấy mỗi người đều có một ngôi nhà độc lập. Nếu bạn sống trong các căn hộ chung cư thì muốn tìm tọa hướng sẽ rất đơn giản, cổng nhà bạn chính là hướng của ngôi nhà. Nếu bạn sống trong các toà nhà cao tầng thì nên dùng tọa hướng của cả toà nhà hay là tọa hướng của đơn nguyên mình đang ở?

Trong xã hội hiện đại, tầng 1 đến tầng 5 thì lấy phương hướng của cả toà nhà làm toạ hướng của đơn nguyên, tức lấy cửa lớn của toà nhà làm phương vị cho đơn nguyên. Các công trình kiến trúc cao nhiều tầng thông thường, bao gồm tầng hầm, đều lấy toạ hướng của cả toà nhà làm chuẩn.

Còn đơn nguyên từ tầng 6 trở lên thì lấy phương hướng cửa lớn của bản thân đơn nguyên làm toạ hướng.

Bạn hãy lưu ý, cổng của một số ngôi nhà mở ở bên hông, bạn vẫn lấy phương hướng của cả toà nhà làm toạ hướng chứ không phải lấy hướng của cổng lệch đó làm toạ hướng của đơn nguyên. Cũng vậy, bạn phải lấy bố cục của cả ngôi nhà làm toạ hướng chứ không chỉ lấy cổng làm toạ hướng, vì một số cổng có thể mở ở vị trí lệch.

Bạn phải tìm được phương vị mà ngôi nhà “toạ” cũng như phương vị mà ngôi nhà “hướng” về, tức là toạ ở trên quẻ nào.

13. THÍ DỤ VỀ PHI TINH NHÀ HƯỚNG KHẢM

Thí dụ nhà bạn là toạ bắc hướng nam điển hình. Phía bắc là Khảm, do đó đơn nguyên toạ bắc hướng nam được gọi là nhà hướng Khảm.

Số 5 nhập cung chính giữa được gọi là Hậu thiên bát quái. Trong Hậu thiên bát quái, vị trí Khảm phía bắc là (1), cho nên trạch bàn của nhà hướng Khảm lấy số (1) bay vào cung chính giữa, vì thế biến thành:

Theo phi tinh học, số (9) thuộc Hoả. Số (9) được gọi là Cửu Tử Ly Hỏa, còn gọi là sao Hữu Bật.

Bởi vậy trong nhà hướng Khảm, phía đông nam có một ngọn lửa Hỏa. Bạn đặt một cây cảnh ở phía đông nam nhà, Mộc sinh Hoả, có thể có nhiều Hỏa.

Hãy chú ý thí dụ này xét theo phương vị của cả ngôi nhà, chứ không chỉ riêng căn phòng của bạn.

Nếu bạn khuyết Hỏa thì hãy chọn lập nghiệp ở đơn nguyên phía đông nam, cơ hội thành công trong làm ăn sẽ rất lớn. Nhưng nếu bạn kỵ Hỏa mà lại chọn đơn nguyên có Hoả tính mạnh nhất để kinh doanh thì cơ hội thành công sẽ giảm đi rất nhiều.

14. THÍ DỤ VỀ PHI TINH NHÀ HƯỚNG ĐOÀI

Lấy một thí dụ khác. Nhà bạn toạ phía tây, phía tây là quẻ Đoài, tức là số (7), nên bạn cho số (7) bay vào cung chính giữa, tìm ra vị trí số (9) đại diện cho Hoả.

Và bạn sẽ biết phía tây là hoả vị trong nhà bạn. Bạn viết ra hết chữ số của 9 phi tinh từ (1) đến (9) vào cung chính giữa là biết được sao Cửu Tử Ly Hỏa của mỗi căn nhà nằm ở phương vị nào.

Bạn chỉ cần đặt một vật có màu đỏ lên vị trí của sao Cửu Tử Ly Hỏa là đã có thể có rất nhiều Hoả.

Khi tìm phương vị bạn phải dùng đến la bàn, nếu không sẽ không thể tìm được phương vị chính xác. Bạn muốn học phong thuỵ để đổi vận thì la bàn là công cụ không thể thiếu. Phương vị tìm được theo phương pháp trên là hỏa vị có tính vĩnh cửu trong đơn nguyên, không thay đổi theo thời gian.

Nhưng, vì hỏa vị mỗi năm đều chuyển biến theo thế vận, giống như vận trình và thời vận của con người đều thay đổi. Do đó, ngoài dùng trạch bàn để tìm hoả vị toà nhà, chúng ta cũng có thể căn cứ vào phi tinh mỗi năm để quyết định xem đâu là phương vị của Hỏa.

Tổ hợp hai sao lại với nhau tạo thành ngũ hành và luận đoán. Phi tinh nhà hướng Đoài. Phương hướng của toà nhà không thay đổi, nhưng sao năm của mỗi năm sẽ khác nhau, do đó mỗi năm có phương hướng ngũ hành khác nhau. Vật phẩm phong thủy mỗi năm tùy thuộc vào vị trí của sao năm.

Thí dụ năm 2010, sao Cửu Tử bay vào cung Đoài.

Tính theo phi tinh đồ thì Hoả tinh của năm 1010 là ở cung Đoài. Như vậy hoả vị nằm ở phía tây bắc.

Lấy ngôi nhà hướng Khảm làm thí dụ. Nếu đơn nguyên bạn lựa chọn không nằm ở phía đông nam thì tính theo cả ngôi nhà, thực ra đơn nguyên không có Hoả. Dù bạn bố trí Hoả ở hướng đông nam nhà theo trạch bàn thì công hiệu cũng đã giảm đi rất nhiều.

Bởi vậy Hoả tinh mỗi năm mới là nhân tố quan trọng, vì nó chuyển biến theo thế vận mỗi năm.

Vận Hỏa của năm 2010 nằm ở phía tây bắc, bạn phải đặt chín bức tượng quý nhân bằng đất màu đỏ ở phía tây bắc để trợ vượng cho vận Hoả. Nhưng do nó làm bằng đất nên có khả năng chống Hoả, người khuyết Hoả phải đặt thêm chín phong bì đỏ phía dưới chín tượng quý nhân, trong phong bì có trà, dùng Mộc sinh Hoả để sinh vượng sao Cửu Tử Ly Hoả.

Đối với người khuyết Hoả, phía tây bắc năm 2010 là phương vị của Hoả. Điều này là chỉ sau lập xuân ngày 4 tháng 2 năm 2009 đến ngày 4 tháng 2 năm 2011.

Nếu phi tinh thuộc Hoả trở về vị trí Hoả phương nam, thì điều đó có nghĩa phương nam có rất nhiều nhiều Hoả một cách danh chính ngôn thuận. Do đó trong năm này, người khuyết Hoả đặc biệt là nữ giới sẽ có thể hấp thu được rất nhiều Hoả, nam giới khuyết Hoả thì cần dành nhiều thời gian hơn ở phía tây bắc để tăng vượng Hoả tính. Do đây là phương vị chuyển biến hàng năm nên rất chính xác.

Một số người sẽ hỏi: “Tháng có thể dùng phi tinh để tính toán phương vị không” hoặc sẽ hỏi: “Ngày, giờ có thể dùng phi tính để tính toán không?”.

Câu trả lời là bất luận năm, tháng, ngày, giờ, tất cả đều có thể tính toán phương vị của phi tinh. Nhưng vấn đề là phi tinh của bạn càng nhiều thì sẽ càng rối loạn. Bởi vậy, tìm được sao năm đã là đủ. Nếu muốn tính sao tháng và sao ngày thì mỗi ngày bạn đều phải di chuyển đồ đạc trong nhà, đó là điều không thực tế.

Con người không thể bị phong thuỵ khống chế đời sống hàng ngày, đó là điều thứ nhất. Thứ đến, là bí mật của ngũ hành, tức là phải làm cho mỗi hành của bạn đều đều được điều hòa. Ý nghĩa của mệnh khuyết là bạn cần một hành nào đó, nhưng không có nghĩa là bạn coi cả bốn hành còn lại là thù địch. Người khuyết Hoả không được mong mồ hôi mình chảy ra có màu đỏ, người khuyết Thuỵ không được mong mồ hôi biến thành màu xanh. Cũng như người khuyết Hoả phải uống đầy đủ nước, người khuyết Thuỵ cũng cần có ánh nắng mặt trời.

Bởi vậy bạn đừng quá đắn đo, đừng vứt bỏ mọi thứ đồ kim loại, cũng không phải cứ thấy nước là quay đầu bỏ đi.

Ý nghĩa của khuyết Hoả là bạn cần nhiều Hoả hơn về tỵ lệ chứ không phải là ghét các hành khác, bởi mọi thứ đều cần chừng mực.

Viết một bình luận