Ngũ hành mệnh mộc và những điều cần biết về mộc

1. NHẬN BIẾT VỀ NGŨ HÀNH

Trước khi học Bát tự, trước hết cần có khái niệm rõ ràng về hành Mộc.

Ở đây tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa, ý nghĩa của khuyết Thủy không phải là bạn chỉ cần hành Thủy, một số người khuyết Kim Thủy, một số người khuyết Thủy Mộc, một số người thậm chí khuyết Thủy còn khuyết cả Hỏa.

Do đó bạn học cách lấy hành Thủy, nhưng không tránh các hành khác, bởi có thể bạn cũng cần thêm một hành nào đó.

Ngũ hành mộc trong cuộc sống này

Bạn đọc muốn học cách đổi vận theo mệnh khuyết, trước hết phải hiểu tầm quan trọng của Thủy.

2. BA PHƯƠNG PHÁP CẢI VẬN NHANH

Khi thế vận, vận năm khuyết Thủy, bạn có ba cách cải vận nhanh.

Thứ nhất là uống nước của Tứ hải long vương.

Đây là nước khoáng của bốn phương đông tây nam bắc pha với nhau bạn có thể giữ bên cạnh mình, đây gọi là bố trận nước Tứ hải long vương.

Cách thứ hai là dùng nước âm dương để uống với bột ngọc trai, tức là nước lạnh pha với nước nóng rồi uống với bột ngọc trai.

Cách thứ ba là ăn đậu đen là thức ăn nhiều Thủy.

3. BỐ CỤC NHÀ Ở KHUYÉT THỦY

Bạn muốn bố trí cục Thủy trong nhà, phương pháp rất đơn giản.

Thí dụ hai con trai bạn khuyết Thủy, bạn hãy sắp xếp cho chúng ở chung một phòng, sau đó trang trí cả căn phòng màu xanh lam, đặt một ang nước ở đầu giường chúng, đây là bố cục tốt nhất.

Nếu bạn là bà chủ nhà mà khuyết Thủy, bạn hãy đặt một ly nước hoặc một chậu nước Tứ hải long vương ở đầu giường, mỗi chậu nước Tứ hải long vương có thể đặt khoảng ba ngày. Khi bạn nhận thấy nước bắt đầu vơi đi thì đổ thêm nước vào.

Nước mà bạn đặt không hiểu sao nhanh chóng biến mất. Nếu bạn nuôi cá, bạn sẽ nhận thấy nước trong bể cá nhanh chóng vơi đi, nếu bạn dùng nước trồng trúc phú quý, bạn sẽ nhận thấy lá trúc phú quý nhanh chóng khô héo, nước trong bình hoa nhanh chóng bốc hơi hết.

Như vậy người khuyết Thủy đều là những “quái vật hút nước”.

Nhiều độc giả sẽ hỏi, thí dụ tôi khuyết Thủy, tôi đặt bể cá và các trang thiết bị thuộc Thủy trong nhà, nhưng chồng và con trai tôi đều kỵ Thủy thì những trang thiết bị ấy có gây bất lợi cho họ không?

Người khuyết Thủy phải đặt bể cá hoặc ang nước trong nhà, nhưng tốt nhất là ứng dụng ở chỗ ngủ hoặc làm việc, vì hai chỗ này đều là chỗ bạn dành thời gian 8-10 giờ mỗi ngày, ngoài ra cách bài trí cũng rất quan trọng. Phòng khách ắt có tivi, mà xem tivi là hành vi rất Hỏa, vì vậy phòng khách đặt bể nước cũng rất quan trọng.

Thực ra đây là vấn đề mọi gia đình đều phải đối mặt, vì mỗi người có ngũ hành bát tự khác nhau. Muốn giải quyết vấn đề này thì áp dụng phưong pháp đã hướng dẫn ở trên: tức là dùng các phương vị khác nhau của Cửu cung để đại diện cho các thành viên trong gia đình.

Bạn không cần phải lập tức trang trí nhà lại cho phù họp với phong thủy, vì có thể điều kiện kinh tế không cho phép. Bạn chỉ cần mua một cái thùng nhựa màu lam, hoặc một thùng nước bằng sắt, đặt ở vị trí đại diện cho mình trong nhà vệ sinh là có thể bổ sung Thủy bị thiếu.

Người khuyết Thủy nhất định phải dành ưu tiên cho nhà vệ sinh, đặt Thủy ở phưong vị đại diện cho bạn.

Nếu bạn muốn bài trí ở nơi dùng chung, thí dụ bạn muốn đặt bể cá ở phòng khách, thì phương pháp cũng rất đơn giản, bạn chỉ cần chia phòng khách thành chín ô, sau đó đặt bể cá ở phương vị đại diện cho bạn.

Thí dụ bạn là cha, bạn hãy đặt bể cá ở phía tây bắc phòng khách. Nếu bạn là bà chủ nhà, hãy đặt một thùng nước ở phía tây nam. Nếu trưởng nam khuyết Thủy, hãy đặt Thủy ở phía đông, tóm lại bài trí theo lý luận Cửu cung là được.

Có một điểm bạn cần biết, bài trí ở chỗ ngủ hoặc chỗ làm việc sẽ cho hiệu quả nhanh nhất, vì mỗi ngày bạn có thể nhận được hành cần thiết khi ngủ, làm việc, hoặc đọc sách ở đó.

Vì thế nguyên lý của khuyết Thủy tốt nhất ứng dụng ở chỗ ngủ và làm việc, vì hai chỗ này đều là chỗ bạn dành thời gian 8-10 giờ mỗi ngày ở đó, ngoài ra cách bài trí cũng rất quan trọng.

Thời gian ở phòng khách hàng ngày của bạn không thật nhiều, nhưng tôi vẫn khuyến khích người khuyết Thủy bài trí ở phòng khách, vì phòng khách là nơi có Hỏa tính nặng. Phòng khách mỗi nhà hẳn đều có tivi, mà xem tivi là hành vi rất Hoả, vì vậy phòng khách đặt bể nước cũng rất quan trọng.

Bạn nỗ lực giảm bót Hỏa tính trong nhà, đồng thời mỗi ngày uống nước Tứ hải long vương và bột ngọc trai, đó là những cách cải vận nhanh nhất.

Để có công hiệu, bạn cần biết, thí dụ ăn cá có lợi cho người khuyết Thủy, nhưng bạn phải ăn hàng ngày. Nếu bạn chỉ ăn cá một lần rồi mấy ngày sau đó chỉ toàn thứ khác thì không thể cân bằng được ngũ hành. Nguyên lý của việc cải vận mệnh khuyết Thủy cũng giống như uống thuốc, phải thực hiện liên tục, giả sử bạn ăn được món cá sống suốt một tuần thì có thể sẽ nhanh chóng hành vận.

Nếu bạn chỉ ăn đan xen thức ăn thuộc Thủy và thuộc Hỏa, bữa này ăn cá, bữa sau ăn thịt, thì tuy bạn đã ăn cá, nhưng lại thêm một hành nữa, như thế sẽ không công hiệu. Nếu bạn vừa ăn cá sống, vừa uống rượu, thì rượu thuộc Hỏa, dù bạn đã ăn cá sống cũng chẳng thể nhận được hành Thủy.

Khi bạn ăn cá thì mỗi bữa chỉ được ăn cá, có thể ăm kèm với ngũ cốc hoặc rau, nhưng không được ăn các loại thịt khác. Chỉ cần kiên tri một tuần, vận Thủy của bạn sẽ đến.

6. GIỚI THIỆU Sơ LƯỢC VÈ BÁT TỰ TỨ TRỤ

Bây giờ tôi sẽ hướng dẫn bạn cách tìm đại vận bát tự.

Trước tiên, bạn phải học cách sắp xếp bát tự, do chủ đề ở đây không phải là dạy bát tự, nên chỉ giới thiệu sơ lược cách sắp xếp bát tự.

Trước hết hãy ôn lại 10 thiên can.

Thiên can được phân chia thành âm dưcmg:

Thiên can thứ 1, 3, 5, 7, 9 thuộc dưcmg (+)

Thiên can thứ 2, 4, 6, 8, 10 thuộc âm (-)

Theo lý thuyết:

Nam giới thuộc dưcmg tính, gọi là mệnh Càn, tức là “chính” (dưcmg).

Nữ giới thuộc âm tính, gọi là mệnh Khôn, tức là “phụ” (âm).

Nam giới thuộc dưcmg, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (dương) (dương) = (dưcmg), Bát tự sắp xếp theo phương pháp suy xuôi.

Nam giới thuộc dưcmg, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (âm) (dưcmg) = (âm), Bát tự sắp xếp theo phưcmg pháp suy ngược.

Nữ giới thuộc âm, nếu can ngày của năm sinh là dương tính thì (âm) (dương) = (âm), Bát tự sắp xếp theo phưcmg pháp suy ngược.

Nữ giới thuộc âm, nếu can ngày của năm sinh là âm tính thì (âm) (âm) = (dương), Bát tự sắp xếp theo phưcmg pháp suy xuôi.

Mỗi người đều có giờ, ngày, tháng, năm sinh. Chúng ta hãy chia thành tám ô như hình dưới.

Năm Tháng Nhật nguyên Giờ

(+)(+) = +

(+) (-) = *

(-) (-) = +

(-) (+) = –

Thí dụ một người sinh vào giờ Tuất ngày 23 tháng 5 năm 1966. Từ lịch vạn niên, tra được Thiên can và Địa chi của 23 tháng 5 năm 1966 là “Nhâm Ngọ”. “Nhâm Ngọ” này gọi là Nhật nguyên.

Thiên can Địa chi của tháng được xác định theo tiết khí. Căn cứ vào Nguyệt kiện của 24 tiết khí, bạn sẽ tìm được từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 8 tháng 9 dương lịch là tháng Thân, tra lịch vạn niên biết được Thiên can Địa chi của tháng Thân là “Giáp Thân”.

Thiên can Địa chi của tháng được xác định theo tiết khí. Căn cứ vào Nguyệt kiện của 24 tiết khí, tìm được từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 5 tháng 6 dương lịch là tháng Tỵ, tra lịch vạn niên biết được Thiên can Địa chi của tháng Tỵ là “Quý Tỵ”.

Khi tra lịch vạn niên, bạn có thể thấy ngày 5 tháng 6 là ngày Lập hạ, ngày đó là 7 giờ 29 phút giờ Thìn ngày 16 âm lịch.

Từ lịch vạn niên, bạn cũng tìm được năm 1966 là năm Bính Ngọ, đến đây thì Thiên can Địa chi của ngày, tháng, năm đều đã tìm được.

LẬP TRỤ NĂM

Muốn tìm Thiên can của giờ Tuất, bạn cũng chỉ cần ra lịch vạn niên. Trong lịch vạn niên, bạn có thể tìm được Thiên can của giờ Tuất. Do Nhật nguyên của ngày sinh là Nhâm Thủy, nên Thiên can Địa chi của giờ Tuất là Canh Tuất, do đó Bát tự của người này như sau.

NHẬT NGUYÊN Bính Quý Nhâm Canh Ngọ Tỵ Ngọ Tuất LẬP THÁNG

Từ lịch vạn niên, có thể tìm được thiên can địa chi năm, tháng, ngày, giờ sinh của một người. Bạn có thể xếp thiên can địa chi bát tự ra đời theo phương pháp sau.

Đặc biệt hơn cả là trụ ngày, nó không thể suy tính theo quy luật, mà phải tra lịch vạn niên.

Suy đoán ghi giờ

Trụ giờ là dùng can chi để hiển thị giờ sinh của con người, địa chi của trụ giờ là cố định, tức địa chi tương ứng với 12 canh giờ, 24 giờ trong ngày. Dưới đây là bảng đối xứng giờ hiện đại và canh giờ.

Giờ hiện đại 23 – 1 1 – 3 3 – 5 5 – 7 7 – 9 9 – 11

Canh giờ Giờ Tý Giờ Sửu Giờ Dần Giờ Mão Giờ Thìn Giờ Tỵ

Giờ hiện đại 11 – 13 13-15 15-17 17-19 19-2121-23

Canh giờ Giờ Ngọ Giờ Mùi Giờ Thân Giờ Dậu Giờ Tuất Giờ Hợi Suy đoán can giờ

Tôi cho rằng về phucmg diện giờ, không cần phải chia thành “giờ Tý ngày” hay “giờ Tý đêm”, tóm lại cứ buớc qua 11 giờ đêm là đuợc tính vào giờ Tý của ngày hôm sau, cách tính này là chuẩn xác, không cần chia giờ Tý thành ngày và đêm.

Do môi truờng xã hội không ngừng thay đổi, nên lý thuyết đuợc truyền lại từ xua chua hẳn đã hoàn toàn phù họp với xã hội hiện nay, bạn đọc cần luợc bỏ những lý thuyết không họp thời, giữ lại những thứ hữu dụng.

7. ĐẠI VẬN CỦA BÁT TỰ KHUYẾT THỦY

Ngũ hành mộc cuộc sống

Bạn muốn xếp Đại vận cho Bát tự nêu trên, mỗi muời năm là một Đại vận, chúng ta xếp ra Thiên can Địa chi của tám Đại vận, tức đại diện cho 80 tuổi thọ của con nguời. xếp tám Đại vận là thuận theo yêu cầu của nguời bình thuờng. Nếu bạn xếp quá ít thì nguời ta sẽ cho rằng tuổi thọ của mình rất ngắn, do đó tốt nhất bạn hãy xếp ít nhất là tám. Đại vận.

Nếu Bát tụ trên là của phụ nữ, phụ nữ thuộc Khôn, tức là âm tính.

Thiên can của năm trên là “Bính”, thuộc ducmg tính, do (âm) (duơng) = (âm), nên phucmg pháp sắp xếp của Bát tụ này là suy nguợc.

Suy nguợc có nghĩa là đếm nguợc từ ngày 23 tháng 5 đến tiết lệnh truớc đó, coi mỗi ba ngày là một năm, từ đó tính xem Bát tự này khởi vận từ tuổi nào.

Nếu bát tụ trên là của nam giới thì nam giới thuộc Càn, tức là duơng tính. Thiên can là “Bính”, thuộc duơng, nên (duơng) (ducmg) = (duơng), nếu Bát tụ thuộc nam giới thì phucmg pháp sắp xếp là suy xuôi.

Suy xuôi nghĩa là đếm xuôi từ ngày 23 tháng 5 đến tiết lệnh sau đó, coi mỗi ba ngày là một năm, từ đó tính xem bát tụ này khởi vận từ tuổi nào.

Bây giờ bạn hãy dùng phuơng pháp suy nguợc để xếp Đại vận cho Bát tụ trên.

Theo lịch vạn niên, từ ngày 23 tháng 5 đếm nguợc đến tiết lệnh truớc đó là ngày Lập hạ tức ngày 6 tháng 5, 23 ngày trừ đi 6 ngày là 17 ngày, mỗi ba ngày là một năm, thừa ra một ngày thì không tính, thừa ra 2 ngày thì tính là một năm. Do đó 17 ngày tính là 6 năm, tức bát tụ này khởi vận tức năm 6 tuổi.

(Nếu dùng phương pháp tính xuôi thì từ ngày 23 tháng 5 đếm đến tiết lệnh sau đó là Bạch lộ ngày 6 tháng 6, từ ngày 23 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6 là 14 ngày, mỗi ba ngày là một năm, thừa ra một ngày thì không tính, thừa ra hai ngày thì tính là một năm. Vậy 14 ngày tính là 5 năm, tức Bát tự của người đàn ông này khởi vận từ năm 5 tuổi).

Nếu bát tự tính bằng cách suy ngược, thì Thiên can Địa chi của mỗi Đại vận sẽ được tính ra bằng cách suy ngược theo Thiên can Địa chi của tháng sinh, tức tháng sinh là Quý Tỵ, thì Thiên can Địa chi của tháng trước đó là Nhâm Thìn, tháng trước nữa là Tân Mão, từ đó suy ra Đại vận của Bát tự).

(Nếu Bát tự tính bằng cách suy thuận, thì Thiên can Địa chi của mỗi Đại vận sẽ được tính ra bằng cách suy xuôi theo Thiên can Địa chi của tháng sinh. Tức là tháng sinh là Quý Tỵ thì Thiên can Địa chi của tháng tiếp theo là Giáp Ngọ, nên Đại vận thứ nhất là Giáp Ngọ, Đại vận tiếp theo là Ất Mùi, cứ thế loại suy).

6 13 26 36 46 56 66 76

Nhâm Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính Ất

Thìn Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất Dậu

Bạn cần lưu ý là tính bát tự phải tính theo tuổi thực.

Tuổi mụ tức là tính cả thời gian còn nằm trong bụng mẹ. Ngày thụ thai chúng ta gọi là Thai nguyên. Do Bát tự có sau khi sinh, nên Bát tự không tính tuổi mụ.

Vậy cái gì thì tính cả tuổi mụ? Diện tướng (xem tướng mặt) tính cả tuổi mụ, bởi tướng mạo của bạn đã được hình thành từ trong bụng mẹ, do đó xem diện tướng phải tính cả tuổi mụ, xem tướng bàn tay cũng phải tính cả tuổi mụ, nhưng Bát tự thì chỉ tính tuổi thực. Dưới đây là sáu điểm mấu chốt khi sắp xếp Đại vận của Bát tự:

  1. Biết âm dương của Thiên can.
  2. Biết Thiên can của ngày sinh, tức là Nhật nguyên.
  3. Biết nguyên lý:

(dương) (dương) = (dương)

(dương) (âm) = (âm)

(âm) (dương) = (âm)

(âm) (âm) = (dương)

  1. Định tháng theo tiết lệnh.
  2. Suy xuôi/suy ngược, cứ ba ngày coi là một năm.
  3. Bát tự tính theo tuổi thực.
  1. NHẬN BIÉT BẢY MẬT MÃ CỦA THỦY

Người phụ nữ tiên sinh năm 1966, tính đến tháng 3 năm 2003, là 36 tuổi.

10 năm từ 36 tuổi đến 46 tuổi do hai chữ “Kỷ Sửu” quản hạt, chữ Kỷ trông coi 5 năm đầu, chữ Sửu trông coi 5 năm cuối.

Trong bát tự của người phụ nữ này, Kỷ Thổ đại diện cho vận chồng.

Người phụ nữ này là người khuyết Thủy, vậy trong bát tự có Thủy không?

Bạn phải nhận biết chín mật mã khuyết Thủy.

  1. Sửu
  2. Thân
  3. Thìn
  4. Hợi
  5. Thân Tý Thìn – cục Thủy tam họp
  6. Hợi Tý Sửu – cục Thủy tam hội
  7. Bính Tân – họp hóa Thủy
  8. Tỵ Thân – Họp hóa Thủy

Trên đây là các chữ và tổ họp thuộc Thủy.

Chữ Tý có rất nhiều Thủy, thứ đến chữ Sửu chứa Quý Thủy, chữ Thân chứa Nhâm Thủy, chữ Thìn chứa Quý Thủy.

Bạn cũng phải biết rằng, Bính Hỏa gặp Tân Kim trong ba tháng Hợi Tý Sửu có thể hóa thành Thủy, trong đó tháng Tý hóa tốt nhất.

Ngoài ra, Tỵ và Thân đi cùng nhau gặp tháng Tý có thể họp hóa thành Thủy.

Người phụ nữ này có rất nhiều chuyển biến về cuộc sống trong năm 2003, vì bước vào đất Thủy Hợi Tý Sửu 30 năm, điều này có nghĩa ba mươi năm này ở vào chỗ bất bại. Người phụ nữ này thuộc Thủy sinh vào mùa Hỏa, hiện đã trở về quê hương thuộc Thủy, ngày 23 tháng 5 năm 2003 đã trở về nhà mình, tức là đã bước vào đại vận cuộc đời thoải mái nhất.

Bắt đầu từ ngày 23 tháng 5 năm 2003, bắt đầu chuyển vận. Đến 66 tuổi, sẽ buớc vào vận Bính Tuất, đây là đại vận của Hỏa và Thổ nóng, phải chăng nó cho thấy khi ấy sức khỏe có vấn đề?

Câu trả lời là chua chắc, nguời phụ nữ này có thể sống lâu.

Vì Bính Tý gặp Tân có thể họp hóa thành Thủy, nhung Thủy này họp mà không hóa, lý do là sinh vào tháng Tỵ, vì thế nếu ở lại quê nhà trong 5 năm này thì có thể sống lâu.

Nếu biết đuợc huyền cơ của bát tụ này, ít nhất có thể kéo dài tuổi thọ đuợc 5 năm.

Khi đại vận hành đến Tuất, không thấy trong bát tụ có bất kỳ thứ gì có thể đuổi Tuất. Bởi vậy khoảng thời gian 71 đến 76 tuổi, phải chú ý những nguời xung quanh, thí dụ chồng, có chữ Thìn trong đại vận hay không, vì chữ Thìn có thể xua đuổi Tuất, điều này phải xem cơ duyên khi ấy, đây cũng sẽ là thời gian nguy hiểm nhất trong cuộc đời.

Hẳn các bạn đều muốn biết, rốt cuộc từ bát tụ có thể dự đoán đuợc thời gian chết hay không?

Cái chết của một con nguời thuờng xảy ra ở những lúc không ngờ đến, khi không để ý đến khoảng thời gian đó, con nguời sẽ chết.

Vì thế không ai tính đuợc một nguời nào đó khi nào sẽ chết, lý do là cái chết của một nguời xảy ra khi mọi nhân tố xung quanh đều đi nguợc lại ngũ hành, khi đó sẽ đột ngột tử vong.

Thí dụ nguời phụ nữ này hành vận Tuất, phải chăng cho thấy thời gian mà cuộc đời cô sẽ có vấn đề?

Câu trả lời là không hẳn, vì phải xem bát tụ của những nguời khác xung quanh. Có thể cô sẽ luôn bình an vô sự, cho đến khi có một nguời con hoặc cháu có rất nhiều Tuất Hỏa đến thăm, cô mới qua đời. Vì vậy nguời cô muốn gặp nhất thực ra là nguời cô kỵ nhất, nguời đó chính là nguời khiến cô qua đời.

Nguời phụ nữ này hiện đã buớc vào vận Thủy, nhung không cảm thấy mình đặc biệt may mắn, lý do là phải hành đến đại vận Sửu mới có nhiều Thủy nhất. Còn có một lý do nữa, đó là chúng ta còn chua tìm ra mỗi năm cô hành vận nào.

Viết một bình luận